XIN CÁC NHÀ KHOA HỌC THỦY LỢI KHIÊM TỐN VÀ CẦU THỊ
Ngày đăng: 16-08-2020 - 06:23:46

Hà Nội, ngày 15/8/2020

 

Kính gửi:

 

 

 

 

 

 

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Chủ tịch UBND các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An

Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học – kỹ thuật Việt Nam (VUSTA)

 

(Xin các nhà khoa học thủy lợi khiêm tốn và cầu thị để đất nước được nhờ)

 

Tôi tên là Nguyễn Đức Thắng, cán bộ Nhà nước về hưu năm 2008, có quá trình công tác, khởi đầu tại Viện Kỹ thuật quân sự, tiếp đến là Viện Khoa học Việt Nam và cuối cùng là Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chỉ đạo Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi nghiên cứu và trả lời kiến nghị của tôi tại bài viết “Sự gia tăng hạn, mặn và ngập úng tại Đồng bằng sông Cửu Long là do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gây ra”, gửi ngày 10/5/2020 đến các Lãnh đạo của đất nước và  Bộ, ngành, UBND tỉnh liên quan. Tại bài viết này tôi đã đưa ra khoảng 90 thực tế/sự thật (TT/ST) để phân tích, chứng minh cho quan điểm của mình (chi tiết tại website nguyenducthang.vn, chuyên mục Thủy lợi và ĐBSCL).

 

Ngày 28/7/2020, ông Nguyễn Văn Tỉnh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi đã ký công thư số 1376/TCTL-QLCT (toàn văn xin xem bên dưới) trả lời, kèm theo là những báo cáo của các đơn vị cục, vụ, viện, hiệp hội Thủy lợi báo cáo Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp và Tổng Cục Thủy lợi. Sau khi nghiên cứu thư trả lời và các báo cáo đính kèm tôi thấy toát lên một tinh thần chung là đồng loạt phản đối, cho là tôi không có tinh thần xây dựng, vu khống Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, không có kiến thức, không hiểu biết về Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Có lẽ tôi là người đầu tiên, đã không giữ phép tắc ngoại giao, vì rất bức xúc trước tình hình gia tăng hạn, mặn và ngập úng tại ĐBSCL do con người gây ra, nên đã nói thẳng, nói thật ngay ở cái tiêu đề, là DO BỘ NN&PTNT GÂY RA. Tôi đã cả gan qui kết trách nhiệm cho Bộ NN&PTNT, cho Tổng Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tôi đã động chạm đến tháp ngà và kho bạc 80% tổng ngân sách Nhà nước cho Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được ưu tiên riêng cho ngành Thủy lợi, tính từ năm 1975 đến năm 2016 và được kết luận là không hiệu quả (Nguồn: WB BÁO CÁO PHÁT TRIỂN VIỆT NAM NĂM 2016: Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào).  Do vậy, đương nhiên Tổng Cục trưởng và tất cả những đơn vị cục, vụ, viện, hiệp hội thuộc lĩnh vực Thủy lợi sẽ phản đối để bảo vệ tháp ngà và kho bạc của mình.

 

GS.TS Võ Tòng Xuân, đại biểu Quốc hội, người có quá nhiều năm gắn bó với nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long và Trường đại học Cần Thơ, trong báo cáo của giáo sư tại Hội nghị Diên hồng về Phát triển bền vững vùng ĐBSCL, ngày 26 – 27/9/2017 tại Cần Thơ, do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, đã viết về ngành Thủy lợi Tâm lý ngành này “có công trình mới có ăn” nên thường xuyên đề xuất với lãnh đạo nhiều công trình để trồng thêm lúa, rất tốn kém và không hiệu quả trong thời buổi này. Tôi đoán giáo sư đã bị dồn nén, bức xúc nhiều năm rồi, nên nhân cơ hội có Thủ tướng tham dự nên đã nói thẳng ra, không nể nang.

 

Tuy nhiên, tôi chỉ là một cá thể, rất bé nhỏ, chẳng là gì so với Tổng cục trưởng và Bộ trưởng. Cái mà Bộ trưởng và các nhà khoa học Thủy lợi phải đối đầu đó chính là 90 thực tế/sự thật, những qui luật và chân lý khoa học, tại ĐBSCL mà tôi đã chỉ ra. Nếu sự phát triển của ĐBSCL được như tự đánh giá và tự nhận xét của Quí Bộ thì không có chuyện ngày 01/6/2020 một tập thể nhân sĩ, trí thức tinh hoa của đất nước ký tên trong bản kiến nghị HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG gửi tới bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam.

 

Hưởng ứng lời kêu gọi này, tôi xin phép đề xuất 4 giải pháp, chẳng liên quan đến thủy lợi, tại bài viết “Xin các nhà khoa học thủy lợi khiêm tốn và cầu thị để đất nước được nhờ” đính kèm bên dưới.

 

Trân trọng cám ơn

 

Nguyễn Đức Thắng

Địa chỉ thường trú: xxx, Điện thoại: 0352344233; email: ndthangndt@yahoo.com

 

 

XIN CÁC NHÀ KHOA HỌC THỦY LỢI KHIÊM TỐN VÀ CẦU THỊ

ĐỂ ĐẤT NƯỚC ĐƯỢC NHỜ

 

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chỉ đạo Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi nghiên cứu và trả lời kiến nghị của tôi tại bài viết Sự gia tăng hạn, mặn và ngập úng tại Đồng bằng sông Cửu Long là do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gây ra, gửi ngày 10/5/2020 đến các Lãnh đạo của đất nước và  Bộ, ngành, UBND tỉnh liên quan. Tại bài viết này tôi đã đưa ra khoảng 90 thực tế/sự thật (TT/ST) để phân tích, chứng minh cho quan điểm của mình.

 

Ngày 28/7/2020, ông Nguyễn Văn Tỉnh, Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy lợi đã ký công thư số 1376/TCTL-QLCT (toàn văn xin xem bên dưới) trả lời, kèm theo là những báo cáo của các đơn vị cục, vụ, viện, hiệp hội Thủy lợi báo cáo Tổng Cục trưởng. Sau khi nghiên cứu thư trả lời và các báo cáo đính kèm tôi thấy toát lên một tinh thần chung là đồng loạt phản đối, cho là tôi không có tinh thần xây dựng, vu khống Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, không có kiến thức, không hiểu biết về Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Tôi không ngạc nhiên trước những ý kiến này và đã chuẩn bị tinh thần để đón nhận chúng. Tôi còn suy nghĩ là Bộ trưởng phải rất tức giận, bực mình khi đọc đến cái tên, tiêu đề của bản kiến nghị. Đơn giản là vì đã vài chục năm qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói chung và ngành Thủy lợi nói riêng đã tự nhận và thường xuyên được nghe những lời ngợi ca, ghi nhận những công lao, thành tích của ngành thủy lợi trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp - nông thôn, đặc biệt đã góp phần đưa ĐBSCL thành vùng trọng điểm về sản xuất nông nghiệp và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 18,7% GDP cả nước; trong đó, sản lượng lúa chiếm 56%, thủy sản 40%; xuất khẩu gạo chiếm 90%, thủy sản chiếm 60% cả nước, …” (trích nguyên văn ý kiến của Tổng cục trưởng).

 

Có lẽ tôi là người đầu tiên, đã không giữ phép tắc ngoại giao, vì rất bức xúc trước tình hình gia tăng hạn, mặn và ngập úng tại ĐBSCL do con người gây ra, nên đã nói thẳng, nói thật ngay ở cái tiêu đề, là DO BỘ NN&PTNT GÂY RA. Tôi đã cả gan qui kết trách nhiệm cho Bộ NN&PTNT, cho Tổng Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tôi đã động chạm đến tháp ngà và kho bạc 80% tổng ngân sách Nhà nước cho Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được ưu tiên riêng cho ngành Thủy lợi, tính từ năm 1975 đến năm 2016 và được kết luận là không hiệu quả (Nguồn: WB BÁO CÁO PHÁT TRIỂN VIỆT NAM NĂM 2016: Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào).  Do vậy, đương nhiên Tổng Cục trưởng và tất cả những đơn vị cục, vụ, viện, hiệp hội thuộc lĩnh vực Thủy lợi sẽ phản đối để bảo vệ tháp ngà và kho bạc của mình.

 

Tuy nhiên, tôi chỉ là một cá thể, rất bé nhỏ, chẳng là gì so với Tổng cục trưởng và Bộ trưởng. Cái mà Bộ trưởng và các nhà khoa học Thủy lợi phải đối đầu đó chính là 90 thực tế/sự thật, những qui luật và chân lý khoa học, tại ĐBSCL mà tôi đã chỉ ra. Nếu sự phát triển của ĐBSCL được như tự đánh giá và tự nhận xét của Quí Bộ thì không có chuyện ngày 01/6/2020 một tập thể nhân sĩ, trí thức tinh hoa của đất nước ký tên trong bản kiến nghị HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG gửi tới bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam.

 

Vấn đề ở đây không phải là ai đúng, ai sai trong tranh luận, phân tích tìm nguyên  nhân, đề xuất giải pháp lối ra cho ĐBSCL, càng không phải là lợi ích của ngành Thủy lợi cần phải được bảo vệ. Vấn đề ở đây là sự phát triển hiệu quả của ĐBSCL để dẫn tới phồn vinh và thịnh vượng cho vùng này. Xóa đói thì không cần hiệu quả, nhưng để giảm nghèo, hoặc muốn hùng cường thì bắt buộc phải tôn trọng qui luật hiệu quả trong phát triển.

 

Chính vì hiệu quả của phát triển, ngày 10/12/2013 tại buổi lễ ra mắt cuốn sách “Swiss Made - Chuyện chưa từng kể về những thành công phi thường của đất nước Thụy Sĩ”, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, ông Vũ Khoan đã nói “Thụy Sĩ không có gì mà có tất cả, trong khi mình có tất cả nhưng lại không có gì”. Năm 2012, GDP của Thụy Sĩ đạt hơn 600 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 75.000 USD. Thụy Sĩ có tỷ lệ bằng sáng chế, số người đoạt giải Nobel trên đầu người cao nhất Thế giới. Trong khi năm 2018 GDP của Việt Nam là 245 tỷ USD, bình quân đầu người gần 2.600 USD.

 

Qui luật phát triển hiệu quả không cho phép đặt lợi ích của ngành Thủy lợi lên trên lợi ích tổng thể của ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói riêng, hay lợi ích của toàn vùng ĐBSCL nói chung. Ngành Thủy lợi không thể tự coi mình là nhất, chiếm đến 80% tổng chi NSNN cho ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  suốt hơn 40 năm qua.

 

Dưới sự lãnh đạo của Bộ NN&PTNT nền nông nghiệp nước nhà đã chuyển từ sinh thái, hữu cơ thuần khiết sang vô cơ với phân hóa học và thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật với ngành Thủy lợi là trung tâm, trụ cột, “nhờ có thủy lợi Việt Nam mới có nền nông nghiệp phát triển và trở thành cường quốc xuất khẩu gạo như ngày nay”. Tuy nhiên, ngành phân hóa học cũng có quyền tuyên bố “Nếu không có phân hóa học thì cũng không đủ gạo và rau quả để ăn”.  Ngành thuốc BVTV cũng có quyền tuyên bố “Nếu không có thuốc trừ sâu thì chẳng có gạo và rau quả để hái ăn và xuất khẩu, mặc cho thủy lợi và tưới tiêu đầy đủ”.

 

Ngành Thủy lợi không nên đảo chính lịch sử nữa. Không nên cho rằng nhờ có thủy lợi đất nước mới chuyển từ đói ăn thành cường quốc xuất khẩu gạo. Về vấn đề này, nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi nhận ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, là “Cha đẻ” của khoán hộ trong nông nghiệp đã đi vào lịch sử của đất nước. Thập kỷ 60, ông vô cùng đau đớn thấy nhiều năm liền ruộng đồng mầu mỡ tốt tươi, phân bắc, phân xanh, thủy lợi tưới tiêu đầy đủ, thế mà nông dân vẫn đói ăn. Người nông dân bị trói buộc trong HTX. Ra đồng làm việc buổi sáng, nghỉ trưa, chiều về đều theo tiếng kẻng gõ ở đầu làng. Hình ảnh người nông dân “giơ cuốc lên, nhưng nghe thấy tiếng kẻng nghỉ trưa đã không thèm bổ xuống ruộng, mà đặt cuốc ngay lên vai mình, thanh thản bước lên bờ ra về” cho thấy người nông dân không thiết tha làm việc trong HTX thời đó. Thương dân quá, ông đã dấu Trung ương thực hiện “khoán chui”, thực chất là “xé” HTX giao lại ruộng đất cho nông dân tự làm và khoán thu sản phẩm, còn lại bao nhiêu nông dân hưởng hết. Chỉ sau có vài tháng, dân có cơm ăn no nhờ khoán chui. Các cánh đồng 5-7 tấn/ha liên tiếp hình thành, năng suất và sản lượng tăng gấp đôi gấp ba, nạn đói giáp hạt kinh niên được loại bỏ ngay lập tức, ấm no hạnh phúc đã trở về đầu tiên trên tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, ông Kim Ngọc vẫn bị kỷ luật và kết tội là “Phá hoại đường lối kinh tế tập thể, HTX”. 20 năm sau, mãi đến năm 1988 Bộ Chính trị mới ban hành Nghị quyết 10, cởi trói cho nông dân. Chỉ một, hai năm sau Việt Nam đã xuất khẩu gạo. Ông Đào Duy Quát, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, năm 2004 đã về nói truyện với các cán bộ (từ cấp trưởng, phó phòng trở lên) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có nói “Đó là giai đoạn cả Đảng sai, chỉ có một người đúng”.

 

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cần đứng trên lợi ích phát triển của toàn vùng ĐBSCL để nhìn nhận, xem xét quyết định vấn đề, thay vì đã ưu tiên quá thiên lệch cho ngành Thủy lợi, sẽ không có lợi cho phát triển hiệu quả ĐBSCL. Tôi xin lấy một ví dụ rất cụ thể về ngành Điện và Năng lượng của Bộ Công thương, khi mà lãnh đạo Bộ Công thương và các nhà khoa học lĩnh vực này đã quá thiên lệch cho nhiệt điện than, để Bộ NN&PTNT tham khảo:

 

Sau khi tham dự hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về chống biến đổi khí hậu, ký Thỏa thuận Paris 2015 nhằm cắt giảm phát thải cac bon, trong đó chủ chốt là cắt giảm nhiệt điện than, chuyển sang khai thác nguồn năng lượng vô tận là mặt trời và sức gió, Bộ Công thương đã trình Thủ tướng Chính phủ “Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030”, được phê duyệt tại Quyết định số 428/2016/QĐ-TTg, ngày 18/3/2016. Bản Quy hoạch này đã xác định ngành nhiệt điện than sẽ đóng vai trò trụ cột, quân vương trong tương lai, sẽ chiếm đến gần 60% tổng sản lượng điện của đất nước. Kế đến là nhiệt điện khí thiên nhiên và hóa lỏng (LNG) chiếm gần 17%, thủy điện gần 16%, điện mặt trời 3%, điện gió 2% và điện sinh khối (biomass) 2%. Từ năm 2016 đến năm 2030 sẽ đầu tư khoảng 3.206.652 tỷ đồng (tương đương 148 tỷ USD).

 

Để bảo vệ vai trò trụ cột, quân vương của ngành nhiệt điện than, Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, tại website của mình, trong năm 2017 đã đăng liền mạch 20 bài viết “Vì sao Việt Nam cần phát triển nhiệt điện than?” và 15 bàiPhản đối Việt Nam phát triển nhiệt điện than là một sai lầm”, cộng với 3 bài "Cú lừa thế kỷ" về phát thải CO2 và biến đổi khí hậu” và bàiTrò gian lận bị lật tẩy”. Tổng cộng 39 bài viết. TS. Nguyễn Bách Phúc, Chủ tịch Hội Tư Vấn Khoa học Công nghệ và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh (HASCON), Viện trưởng Viện Điện - Điện tử - Tin học (EEI) đã khẳng định trên báo chí “Nhiệt điện than 5 tỷ USD sát Tp. HCM bắt buộc phải làm”.

 

Ngày 6/7/2018 tôi đã có thư gửi các Lãnh đạo của đất nước và các Bộ, ngành liên quan kèm bài viết Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 là phản khoa học và rất có hại cho đất nước(chi tiết tại website nguyenducthang.vn chuyên mục Điện và Năng lượng). Tôi đã dẫn ra gần 100 thực tế/sự thật phân tích, chứng minh: Để thực hiện Quy hoạch này chúng ta phải thắt lưng buộc bụng, bỏ ra 148 tỷ USD để “mua” được những tác hại vô cùng to lớn sau đây:

 

  1. Hủy hoại sức khỏe nhân dân và môi trường sinh thái.
  2. Làm gia tăng phát thải khí nhà kính, đẩy mạnh biến đổi khí hậu.
  3. Gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước.
  4. Gây tụt hậu lớn cho ngành điện Việt Nam so với Thế giới.
  5. Kìm hãm sự phát triển của điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối.
  6. Vi phạm nghiêm trọng Luật đấu thầu.
  7. Không nói thật với nhân dân.

 

Bài kiến nghị này của tôi đã thuyết phục được các cố vấn, tham mưu gần gũi nhất của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về lĩnh vực Điện và Năng lượng. Họ đã kiến  nghị Thủ tướng cho dừng phát triển nhiệt điện than và phải làm lại bản Quy hoạch. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo Bộ Công thương thực hiện hai việc này. Ngày 25/8/2018, Bộ trưởng Bộ Công thương Trần Tuấn Anh, đã có công thư gửi tôi, có viết “Tôi xin cám ơn Ông đã có tâm huyết, dày công sưu tập, nghiên cứu các thông tin nhằm góp ý cho công tác quy hoạch phát triển điện lực quốc gia. ... Một số ý kiến của Ông sẽ được ghi nhận để nghiên cứu tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ trong quá trình xây dựng và phê duyệt Tổng sơ đồ phát triển điện lực quốc gia giai đoạn tiếp theo (TSĐ8)”. Tại diễn đàn của Quốc hội, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh thừa nhận bản Quy hoạch điện lực đã bị phá vỡ do không lường được sự phát triển bùng nổ của hai ngành điện gió và điện mặt trời. Tôi rất mừng là bài viết của tôi đã quay ngược ngành Điện lực 180 độ, để đi theo xu thế phát triển của Thế giới là điện xanh, điện sạch, rất dân chủ, phi tập trung, không độc quyền.

 

Trong lĩnh vực Thủy lợi, ngày 30/8/2018 tôi đã có thư kiến nghị gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Bộ trưởng Bộ NN&PTNT kèm bài viết “Cần trả lại chân lý khoa học cho kết luận về nguyên nhân ngập úng tại Tp. HCM” (chi tiết tại website nguyenducthang.vn chuyên mục Thủy lợi và Ngập úng Tp. HCM). Bài viết gồm 8 phần sau:

 

i. Quyết tâm chính trị và khoa học Thủy lợi duy ý chí

ii. Oan cho mưa, lũ thượng nguồn, triều cường và mực nước biển dâng.

iii. Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng cục bộ khu vực Tp. HCM là bảo vệ khu vực giầu, đẩy úng ngập đến khu vực nghèo.

iv. Ngập úng cục bộ tại Tp.HCM, 100% do con người gây ra.

v. Tuyến đê chắn biển hùng vĩ từ Vũng Tàu đến Gò Công (Tiền Giang) sẽ chống ngập cục bộ triệt để cho toàn Tp.HCM?

vi. Những công trình, dự án lịch sử trị thiên của ngành Thủy lợi trong 30 năm phát triển

vii. Kiến nghị giải pháp

viii. Ý kiến ủng hộ của một số nhà khoa học thủy lợi

 

Với 70 thực tế/sự thật được dẫn ra để phân tích và chứng minh “Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực thành phố Hồ Chí Minh” tại Quyết định số 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008 và chủ trương xây dựng tuyến đê ngăn biển Vũng Tàu – Gò Công (tỉnh Tiền Giang) là phản khoa học và rất có hại cho đất nước. Tại bài viết này tôi đã có 4 phát hiện mới, trong đó có 2 qui luật của tự nhiên liên quan đến úng ngập Tp. HCM.

 

Chúng ta không thể để trong những năm tới sẽ phải đầu tư hơn 230.000 tỷ đồng cho đê bao hình lưỡi bò, đê biển, cống đập và các trạm bơm công suất lớn, nhưng ngập úng sau mưa vẫn hoàn ngập úng. Vì chống ngập có hiệu quả là lợi ích sát sườn của Tp. HCM, nên Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã không cần tham vấn về chuyên môn với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đã ủng hộ hoàn toàn bài viết của tôi và báo cáo lãnh đạo UBND Tp. HCM tại 3 văn bản sau:

 

  • Công văn số 3201/SNN-CCTL, ngày 19/11/2018 của Sở NN&PTNT báo cáo UBND thành phố về những kiến nghị của tôi.
  • Công thư số 3245/SNN-CCTL, ngày 22/11/2018 của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gửi cho tôi.
  • Công văn số 839/UBND-ĐT, ngày 12/3/2019 của lãnh đạo UBND thành phố chỉ đạo các Sở, ban ngành liên quan, căn cứ trên những giải pháp mà tôi kiến nghị, đề xuất, triển khai thực hiện. (Chi tiết 3 công văn tại đây)

 

Tại sao tôi lại có tư duy trái ngược với Bộ NN&PTNT, không đổ lỗi cho 1) MƯA 2) LŨ THƯỢNG NGUỒN 3) TRIỀU CƯỜNG 4) MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG và 5) CÁC ĐẬP, HỒ THỦY ĐIỆN THƯỢNG NGUỒN SÔNG MÊ CÔNG ĂN NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC mà đổ lỗi cho chính chúng ta. Trong đó, vì Bộ NN&PTNT là Tổng Tư lệnh cần chịu trách nhiệm chính, chủ yếu.

 

Vì nắng, mưa, gió, bão, lũ đã tồn tại ngàn năm rồi và sẽ tiếp tục vĩnh hằng. Trước những năm 1986 Tp. HCM rất ít ngập úng, tại sao hai chục năm gần đây lại thường xuyên bị ngập úng?

 

Vì tôi và nhân dân nhiều năm nay đã nghe mãi câu ca “Mất mùa bởi tại thiên tai. Được mùa bởi tại thiên tài Bộ Nông”.

 

Vì nếu cứ đổ lỗi mãi cho thiên nhiên chúng ta không thể lớn lên được.

 

Vì nếu đổ lỗi mãi cho thiên hạ, các nước thượng nguồn sông Mê Công  ôm nước, giữ nước, Đồng bằng sông Cửu Long không thể tìm được lối ra.

 

Vì xóa đói thì không cần quan tâm đến HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ. Nhưng để thoát nghèo và làm giàu thì BẮT BUỘC.

 

Vì Việt Nam không quan tâm đến hiệu quả của phát triển nên nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã nói “Thụy Sĩ không có gì mà có tất cả, trong khi mình có tất cả nhưng lại không có gì”.

 

Vì rất quan tâm đến hiệu quả của phát triển, nên buổi gặp mặt đại biểu trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ, ngày 30/7/2020 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nói thật, không sĩ diện “Một dân tộc có truyền thống 4.000 năm lịch sử, sinh ra nhiều danh nhân văn hóa, bao đời quyết tâm chống sự xâm lăng của ngoại bang thì phải là dân tộc mạnh. Dân tộc đó không thể để thế giới coi thường là dân tộc bạc nhược, nghèo khó. Đây là sứ mệnh mà đội ngũ trí thức, nhà khoa học cần chung tay đóng góp".

 

Vì tôi thấy hơn 165 nguyên thủ các nước trên Thế giới đâu có đổ lỗi cho thiên nhiên, cho biến đổi khí hậu. Họ tự nhận lỗi về mình, do con người gây ra (anthropogenic activity), do con người đã tàn phá thiên  nhiên quá nhiều. Nên từ ngày 30/11 – 13/12/2015 họ đã qui tụ về Paris ký kết cam kết cắt giảm phát thải cacbon, đồng  nghĩa với cắt giảm tiêu thụ các nhiên liệu hóa thạch (than, xăng, dầu, khí tự nhiên), mấu chốt là nhiệt điện than để chống BĐKH; tìm nguồn năng lượng tái tạo để thay thế. Việt Nam chính xác đang làm ngược lại so với Thế giới là đẩy mạnh phát triển nhiệt điện than lên gần 60% và đẩy mạnh xây ĐÊ, ĐẬP, KÈ, CỐNG ngay từ bây giờ, trong khi mực nước biển Đông dâng do BĐKH trong 30 năm qua tối đa là 2cm (bằng móng tay).

 

 

GS.TS Võ Tòng Xuân, đại biểu Quốc hội, người có quá nhiều năm gắn bó với nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long và Trường đại học Cần Thơ, trong báo cáo của giáo sư ở Hội nghị Diên hồng về Phát triển bền vững vùng ĐBSCL trước những thách thức của biến đổi khí hậu, ngày 26 – 27/9/2017 tại Cần Thơ do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, đã viết về ngành Thủy lợi Tâm lý ngành này “có công trình mới có ăn” nên thường xuyên đề xuất với lãnh đạo nhiều công trình để trồng thêm lúa, rất tốn kém và không hiệu quả trong thời buổi này. Tôi nghĩ là giáo sư đã bị dồn nén, bức xúc nhiều năm rồi, nên nhân cơ hội có Thủ tướng tham dự nên đã nói thẳng ra, không nể nang.

 

Vì không tôn trọng hiệu quả trong phát triển, mặc cho Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo, trong đó ĐBSCL chiếm đến 90%, nhưng hóa ra là lỗ. Tháng 5/2015, nữ chuyên gia quốc tế Tong Yen Dan đã công bố công trình nghiên cứu của mình “Phân tích những Chi phí và Lợi ích của hệ thống đê bao tôn cao ở Đồng bằng sông Cửu Long” để cấy lúa 3 vụ quanh năm. Nghiên cứu này được Chương trình Môi trường và Kinh tế Đông Nam Á tài trợ (The Economy and Environment Program for Southeast Asia, Văn phòng đặt tại Philippines) “A Cost – Benefit Analysis of Dike Heightening in Mekong Delta” May, 2015.  

(https://ideas.repec.org/p/eep/report/rr20160320.html)

Tác giả đã được sự trợ giúp của Trường Đại học Cần Thơ và đã chọn An Giang là tỉnh điển hình của ĐBSCL để nghiên cứu trong 1 năm. Kết quả được lượng hóa rất cụ thể, qui hết ra tiền: Đối với Nhà nước thua lỗ 47.765 nghìn đồng/ha. Đối với nông dân, thua lỗ 3.381 nghìn đồng/ha.

 

Vì báo Tiền Phong, một tờ báo của thế hệ trẻ tiên phong đã phải đăng bài như ảnh này:

 

 

Nhân dân có lỗi chắc? Không phải, hoàn toàn không phải. Trách nhiệm chính phải là Bộ NN&PTNT. Quyền lực càng cao, trách nhiệm càng lớn, đó là ý mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn nhắc nhở.

 

Vì Bộ NN&PTNT là thành viên 42 năm rồi của Ủy hội sông Mê Công, nhưng lại không hề sử dụng 1 số liệu cơ bản, trụ cột nhất mà ĐBSCL khát, trong báo hàng năm của Ủy hội (Mekong River Commission, State of the Basin Report 2018) là tổng lưu lượng dòng chảy trung bình nhiều năm là 457 tỷ m3 nước. Bộ đã sử dụng số liệu quá cũ của Morgan F. R. từ năm 1961, hoàn toàn không tin cậy là  4.000 tỷ m3 nước đổ về ĐBSCL, cao gấp 8,8 lần!!

 

 

Vì công trình thủy lợi điển hình nhất nhưng cũng vô nghĩa nhất là cống đập Ba Lai (tỉnh Bến Tre) ngăn mặn, giữ ngọt, bịt cửa sông Ba Lai,  khánh thành ngày 30/4/2002. Sông Ba Lai là một trong 9 nhánh sông của sông Cửu Long đã chết, không có dòng chảy, thành một hồ siêu dài, phù sa lắng đọng đầy bên trong, nước ô nhiễm nặng do chất thải của dân cư, từ các hoạt động nông và công nghiệp. Mục tiêu ngọt hóa hoàn toàn thất bại, vì xâm nhập mặn hàng ngày vẫn tấn công vào từ tứ phía.

 

 

Công trình ngăn mặn, giữ ngọt nổi tiếng tiếp theo được Bộ NN&PTNT đầu tư không tiếc tiền, nhưng không phát huy hiệu quả ngay sau khi khánh thành, hiện bỏ hoang từ rất lâu là Âu thuyền Tắc Thủ và cống Cà Mau. Đến năm 2015, báo ảnh online Đất Mũi (đăng ngày 05/10/2015 09:40) đã phải lên tiếng với tiêu đề “Cần sớm “khai tử” âu thuyền Tắc Thủ và cống Cà Mau”.

 

Sau Đổi mới (năm 1986), Bộ NN&PTNT đã quyết định chọn nông nghiệp nước ngọt cho toàn vùng ĐBSCL, bằng xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi ngăn mặn, giữ ngọt, bịt cửa các sông con và kênh, rạch. Quyết định này của Bộ NN&PTNT đồng nghĩa với BẮT BUỘC người dân các tỉnh có mặt tiền là biển, phải thực hiện NÔNG NGHIỆP NƯỚC NGỌT lâu dài. Nhà khoa học Lương Quang Xô (Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam) đã nghiên cứu và đề xuất bịt hết tất cả các cửa sông lớn đổ ra biển Đông và biển Tây, nguyên văn:

 

“+ Tiến hành xây dựng 10 cống trên các sông lớn như: Cái Bé (-7m, 90m), Cái Lớn (-7m, 400m), Vàm Cỏ (-8m, 400m), Hàm Luông (10m, 1300m), Cửa Tiểu (-5m, 800m), Cổ Chiên 1 (-10m, 1000m), Cổ Chiên 2 (-10m, 1200m), Định An (-7m, 4000m), Trần Đề (-8,5m, 1200m) và Cửa Đại (-8m, 1200m). Các cống này đóng ngăn mặn từ tháng I đến hết tháng VI, từ tháng VII đến tháng XII mở để thoát lũ”.

 

Do thương các cửa sông bị bịt kín hết miệng, nên một cây đa khoa học thủy lợi khác là Lã Song Toàn, nguyên cán bộ viện Quy hoạch Thủy lợi đã công bố “GIẢI PHÁP MỚI bảo vệ nguồn nước ở Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”. Đó là chỉ khâu khoảng ba phần tư miệng sông lại thôi, cũng đủ ngăn mặn được rồi; còn hé mở một phần tư để chỗ cho tầu bè và tôm cua, cá ốc đi lại.

 

Đã ngàn năm sống ở với biển, có mặt tiền là biển thế mà bắt nhân dân phải quay lưng lại với biển. Ngọt hóa các vùng ven biển, thực hiện nông nghiệp nước ngọt SẼ LÀM GIA TĂNG MẠNH MẼ NHU CẦU NƯỚC NGỌT, khoan hút nước ngầm khắp vùng ĐBSCL gây sụt lún. 80% tổng nhu cầu nước ngọt là cho nông nghiệp, phần lớn là cho cây lúa, 20% còn lại cho sinh hoạt và công nghiệp, dịch vụ. Điều này cũng đồng nghĩa với thường xuyên đối chọi với rủi ro xâm nhập mặn và thiếu hụt nước ngọt. Sự tấn công của mặn vào vùng ngọt hóa luôn là thường trực, ngày và đêm.

 

NGƯỜI DÂN MẤT QUYỀN LỰA CHỌN CANH TÁC GIỮA NGỌT,  MẶN VÀ LỢ.  Như vậy là bắt buộc người dân, từ đời này sang đời khác phải trồng cây nước ngọt và nuôi con nước ngọt. Có nhiều nơi bà con thấy rằng canh tác nước mặn và nước lợ hiệu quả hơn, cụ thể là nuôi tôm hơn cấy lúa và trồng dừa nên đã phá cống, phá đập để lấy nước mặn. Nhưng như vậy là vi phạm pháp luật vì phá hoại các công trình thủy lợi của Nhà nước.

 

Sống có mặt tiền là biển, nhưng nhiều các cửa sông nhỏ đổ ra biển đã bị bịt. Sông Cái Lớn và sông Cái Bé lớn nhất đổ ra biển Tây đang tấp nập bị bịt cửa sông; khoảng 2 năm nữa sẽ cắt băng khánh thành bất chấp sự phản đối của nhiều nhà khoa học. Trong tương lai 8 nhánh sông lớn còn lại của sông Tiền và sông Hậu cũng sẽ bị bịt nốt để thực hiện, thỏa mãn quyết tâm chặn biển, ngăn mặn của lãnh đạo ngành Thủy lợi. Kho bạc dành cho ngành Thủy lợi chiếm đến 80% tổng ngân sách ngành NN&PTNT không tiêu thì để làm gì? Khi 9 cửa sông bị bịt hết, sẽ không còn ĐBSCL nữa mà nên gọi là Đồng bằng Tây Nam Bộ thì đúng hơn. Sẽ xóa cái tên ĐBSCL thân yêu đã có từ ngàn năm của cả đất nước.

 

Trước Đổi mới (năm 1986) ĐBSCL chằng chịt sông, ngòi, kênh, rạch, liên thông kết nối, trong xanh, sạch đẹp và tươi mát, vì chúng luôn có dòng chảy. Tôm, cua, cá, ốc, tàu bè đi lại thuận tiện dễ dàng. Các dòng chảy cũng góp phần thau chua, rửa mặn, cuốn nước thải của cộng đồng dân cư đẩy xa ra biển.

 

Buồn là 30 năm qua nhiều nghìn cống lớn, cống bé được xây dựng nhằm ngọt hóa toàn vùng ĐBSCL đã chia ĐBSCL thành rất nhiều đoạn kênh, rạch ngắn, chứa nước ngọt tù túng, bẩn thỉu vì không có dòng chảy. Sông, ngòi, kênh, rạch mà không có dòng chảy có nghĩa là sông, ngòi, kênh, rạch chết. Sẽ là một hệ sinh thái chết vì ô nhiễm.

 

ĐBSCL đang thực hiện một nền nông nghiệp đậm đặc thuốc trừ sâu và phân hóa học hủy hoại đất đai và môi trường sinh thái. Nếu không có phân hóa học và thuốc trừ sâu thì không có gì để hái, để ăn và để bán. Sử dụng phân hóa học lãng phí, không hiệu quả. Có đến 1/3 – 2/3 lượng phân hóa học bị rửa trôi, không được cây hấp thụ, gây ô nhiễm môi trường (Nguồn: WB BÁO CÁO PHÁT TRIỂN VIỆT NAM NĂM 2016: Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào).

 

Để có một quả cà chua ăn, từ khi trồng cây con đến khi hái quả, phải chịu phun 3 đến 4 lần thuốc trừ sâu. Kết quả cho thấy 35% trong số các nông dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long được xét nghiệm y tế có dấu hiện bị nhiễm độc bởi các chất phốtpho hữu cơ và carbamates có trong thuốc trừ sâu, trong đó 21% có triệu chứng bị nhiễm độc kinh niên (Nguồn: WB BÁO CÁO PHÁT TRIỂN VIỆT NAM NĂM 2016: Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào). Ung thư đang đến với mọi gia đình là lẽ đương nhiên. Nền nông nghiệp trị Thiên, trái với qui luật tự nhiên đã làm cho khoảng 2,5 triệu thanh niên nam nữ miền Tây Nam Bộ để lại con thơ cho bố mẹ già về Tp. HCM và lân cận kiếm sống. Cả triệu cháu nhỏ, những chủ nhân tương lai của ĐBSCL đang phải sống thiếu sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ đẻ.

 

Chủ trương biến toàn vùng ĐBSCL thực hiện nông nghiệp nước ngọt, cũng đồng nghĩa với XÓA ĐI CƠ HỘI CHUYỂN ĐỔI KINH TẾ vùng này, ví dụ giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng dịch vụ, công nghiệp nhẹ (ví dụ sản xuất giày dép, dệt may, dịch vụ du lịch v.v..). Bộ NN&PTNT không nên bắt nhân dân vùng này phải mãi là nông dân, ăn đời ở kiếp với lúa.

 

 

Chuyên gia của WB đã phải ngạc nhiên là trong thập kỷ 2000 số hộ trồng lúa là 9,3 triệu hộ lại lớn hơn số hộ nông nghiệp. Như vậy họ suy luận phải có một số hộ phi nông nghiệp cũng trồng lúa.

 

Vì Nhà nước đã bỏ ra 70% kinh phí làm đê bao tại ĐBSCL, gia tăng cơ hội cho người dân trồng lúa 3 vụ quanh năm, 30% còn lại, người dân hèn chi mà không bỏ vào để làm giàu từ lúa. Lúa gạo chiếm vị trí chủ lực, được dành đất tốt nhất và được tưới tiêu tốt nhất. SỰ HỖ TRỢ, ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHÀ NƯỚC GIÚP NÔNG DÂN HÓA RA LÀ CON DAO HAI LƯỠI. Là cái bẫy thu hút nhiều người tham gia trồng lúa. Nhưng kết quả thực sự là lỗ, như nữ chuyên gia quốc tế Tong Yen Dan đã chỉ ra ở công trình nghiên cứu “Phân tích những Chi phí và Lợi ích của hệ thống đê bao tôn cao ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Đối với Nhà nước thua lỗ 47.765 nghìn đồng/ha. Đối với nông dân, thua lỗ 3.381 nghìn đồng/ha.

 

Giá trị gia tăng trên mỗi lao động nông nghiệp, theo kết quả thống kê chính thức, đạt 8 triệu đồng năm 2006, thấp hơn nhiều so với ngành dịch vụ là 36 triệu đồng và công nghiệp chế tạo là 41 triệu đồng và thấp hơn mức trung bình của cả nền kinh tế (24 triệu đồng).

 

CÓ NGHĨA LÀ ĐÊ BAO, CỐNG ĐẬP BỊT MIỆNG CÁC CỬA SÔNG, CÁC KÊNH, RẠCH ĐỂ NGĂN MẶN, NGỌT HÓA ĐBSCL, GẮN KIẾP PHẬN NÔNG DÂN VỚI TRỒNG CÂY NƯỚC NGỌT VÀ NUÔI CON NƯỚC NGỌT, SẼ MÃI NGHÈO. CHƯA CÓ MỘT BỘ NÔNG NGHIỆP NÀO TRÊN THẾ GIỚI TƯỚC QUYỀN CƠ BẢN CỦA NGƯỜI DÂN TRONG LỰA CHỌN KẾ SINH NHAI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN SINH THÁI MÀ HỌ ĐANG CÓ.

 

Hưởng ứng lời kêu gọi HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ngày 01/6/2020 của tập thể nhân sĩ, trí thức tinh hoa của đất nước, tôi mạo muội đề xuất một số  nội dung, chẳng liên quan đến thủy lợi, như dưới đây:

 

  1. Khắc phục “HẠN, MẶN” cho sinh hoạt và công nghiệp (20% của tổng nhu cầu nước ngọt) bằng tạo cơ chế, chính sách khuyến khích tư nhân đầu tư các trạm xử lý, cấp nước máy rất phân tán, phi tập trung kinh doanh nước sạch.
  2. Khắc phục HẠN, MẶN cho nông nghiệp (80% tổng nhu cầu nước ngọt) bằng cách cắt giảm nông nghiệp, tạo cơ hội công nghiệp hóa, dịch vụ hóa phát triển ở vùng này.
  3. Chính phủ nên có hẳn một Nghị quyết tạo môi trường đầu tư thật hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào vùng này.
  4. Đầu tư thêm một hai đường cao tốc liên tỉnh gắn nối miền Đông và miền Tây.
  5. Xây dựng một sân bay và cảng biển quốc tế cho vùng này.
  6. Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển đổi tư duy phát triển, không nên biến thành một nam châm khổng lồ thu hút mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước. Tp. HCM nên phát triển về chất, chỉ tiếp nhận các dự án đầu tư theo chiều sâu, đẩy các dự án còn lại về miền Tây Nam Bộ. Đồng  nghĩa với đẩy dòng khoảng 2,5 triệu người miền Tây kiếm sống ngắn hạn tại Tp. HCM ngược về với gia đình ở ĐBSCL. Điều này sẽ giúp cho Tp. HCM giảm được nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng theo chiều rộng và sớm đạt được sự phát triển về chất theo chiều sâu. Châu Âu có rất nhiều thành phố vô cùng xinh đẹp, thanh bình, chỉ phát triển về chất, không mở rộng hỗn tạp, dân số nhiều năm rất ổn định. Với tư duy phát triển như hiện nay, nặng về lượng, nhưng không có chất, Tp. HCM sẽ không thể thoát khỏi bế tắc, chìm ngập trong ùn tắc giao thông và ngập úng do tắc cống ở đâu đó, vệ sinh môi trường, các tệ  nạn xã hội. Cho dù Tp. HCM có liên tục phát triển, liên tục mở rộng, với những cơ chế đặc thù như hiện nay được Quốc hội cho phép cũng không thể cứu được Tp. HCM. Vì là một nam châm khổng lồ nên liên tục thu hút dòng người lao động kiếm sống từ miền Tây tràn vào. Việc Tp. HCM chọn lọc, chỉ chấp nhận các nhà đầu tư giúp thành phố phát triển về chất, theo chiều sâu, đẩy phần lớn các nhà đầu tư còn lại về với miền Tây sẽ là rất hữu ích cho thành phố; đồng nghĩa với chung tay góp sức cứu ĐBSCL.

 

Trân trọng cám ơn.

Nguyễn Đức Thắng, Hà Nội ngày 14/8/2020

 

 

 

 

 

BỘ TRƯỞNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦN HỒNG HÀ
BỘ TRƯỞNG TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRẦN HỒNG HÀ LÀ NGƯỜI ĐÃ ĂN QUẢ NHƯNG KHÔNG NHỚ KẺ TRỒNG CÂY
NGHỊCH LÝ MỸ (USA)
NGHỊCH LÝ MỸ (USA), VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC