ĐIỆN VÀ NĂNG LƯỢNG >THỦY ĐIỆN NHỎ KHÔNG CÓ TỘI, LỖI DO CON NGƯỜI GÂY RA
Ngày đăng: 19-11-2020 - 22:27:24

THỦY ĐIỆN NHỎ KHÔNG CÓ TỘI, LỖI DO CON NGƯỜI GÂY RA

 

(Cộng đồng Thế giới đã và đang hết mình vì thủy điện nhỏ)

 

Thực tế/Sự thật (TT/ST) 1:  Đã nhiều năm  gần đây, cứ mùa lũ về là báo chí, truyền thông có tổ chức và truyền thông cá nhân (mạng xã hội như Facebook, Zalo…)  lại ào ạt tấn công thủy điện là nguyên nhân gây ra LŨ, LỤT thảm họa ở miền Trung. Đặc biệt năm nay, từ 5/10 đến ngày 30/10 mưa to, mưa lớn cộng với cơn bão số 9 (bão Molave) đã tấn công các tỉnh miền Trung. Những vụ sạt lở đất đai, bốn vụ LŨ ĐẤT (Rào Trăng 3, Trạm kiểm lâm 67, Đoàn kinh tế quốc phòng Quân khu 4, thôn 1 xã Trà Leng) chôn vùi nhà cửa cũng qui kết cho thủy điện nhỏ miền Trung.

 

TT/ST  2:  Hiện Quốc hội đang họp và các đại biểu Quốc hội cũng chất vấn mạnh mẽ Bộ trưởng Công thương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn về thủy điện nhỏ liên quan đến lũ, lụt miền Trung. Các cơ quan quản lý Nhà nước đổ lỗi cho ông Trời gây mưa lịch sử, mưa quá lớn, quá nhiều.

 

TT/ST  3:  Vậy truyền thông, báo chí qui tội cho thủy điện dựa trên những căn cứ thực tế/sự thật nào? Tôi đã chịu khó tìm đọc, nhưng không tìm thấy những phân tích, lập luận chứng minh chi tiết, chỉ có kết luận chắc như đinh:

 

1) Các đập hồ thủy điện chiếm diện tích rừng, phá rừng đầu nguồn.

2) Thủy điện tăng xả lũ khi lũ về gây ngập lụt cho hạ du.

 

Hai kết luận này được lặp đi nhắc lại ở khắp mọi nơi và năm này qua năm khác. Do không hề có chứng minh nên tôi coi là kết luận cảm tính, chủ quan. Bài phân tích, chứng minh của tôi gồm 6 phần sau:

  1. Đập hồ thủy điện, mất rừng và lũ
  2. Thủy điện và sạt lở đất
  3. Đập hồ thủy điện cắt lũ, giảm lụt cho hạ du
  4. Sự phát triển ở hạ lưu mới là nguyên nhân chính gây ngập lụt
  5. Phong trào phá bỏ đập ở các nước Châu Âu?
  6. Quan điểm của Thế giới về thủy điện

 

I. ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN, MẤT RỪNG VÀ LŨ

 

TT/ST 4:  Lũ khác với lụt. LŨ (flood) là dòng nước mưa chảy tràn bề mặt (surface runoff water) với lưu lượng lớn. Đồi núi có độ dốc lớn thì tốc độ dòng chảy nhanh. Nơi có độ dốc thấp, như đồng bằng, tốc độ dòng chảy là chậm. LỤT là do lũ bị chặn lại, bị tắc, không chảy thoát đi được, gây ngập lụt. Lũ là nguyên nhân, lụt là hệ quả.

 

TT/ST  5:  Ngày xưa cũng có mưa nhiều, mưa lớn, nhưng ít lũ và ít ngập lụt ở miền Trung. Ngày nay thì lũ và lụt nhiều hơn. Do vậy sự gia tăng này 100% do con người gây ra, hoàn toàn không phải do ông Trời.

 

TT/ST  6:  Ngày xưa là đất rừng tự nhiên, thảm thực vật tự nhiên phủ kín mặt đồi núi. Nên sau những cơn mưa, nước đổ về xuôi chậm và toàn là nước trong. Trung bình, đất rừng tự nhiên sau 2 giờ mưa lớn có thể lưu giữ, ít nhiều cũng khoảng 150mm nước mưa thấm sâu vào đất, thành nước ngầm (underground water). Nếu sau 2 giờ mưa cộng bão, ông Trời đổ xuống 300mm nước, thì một nửa số đó ngấm sâu vào đất, nửa còn lại chảy tràn bề mặt về xuôi.

 

TT/ST 7:  Vì nước ngầm luôn chảy chậm so với nước chảy bề mặt, lâu sau đó, sẽ nhú ra khỏi đất thành những đầu nguồn nhỏ, góp thành các dòng nước nhỏ, cộng lại thành dòng suối con. Nhiều dòng suối con góp thành các suối lớn, nhiều suối lớn gộp thành các con sông đổ về xuôi, ra biển. Như vậy, RỪNG VÀ THẢM THỰC VẬT HOẠT ĐỘNG NHƯ MỘT CÁI PHANH GIẢM LŨ.

 

TT/ST  8:  NGÀY NAY rừng được thay thế bằng những đồi cây công nghiệp mênh mông (sắn, cà phê, cao su, tiêu, chè, cây ăn quả các loại…) và các nương rẫy, ĐẤT LUÔN ĐƯỢC CẦY, CUỐC, ĐÀO XỚI, BĂM NHỎ. Nên sau mỗi cơn mưa, toàn là nước đất, nước bùn đỏ ào ạt đổ về xuôi, tạo nên những cơn lũ quét cuốn đi tất cả.

 

TT/ST  9:  Nước đổ vào rừng, nước bị hấp thụ và phanh lại. Nước đổ xuống đất không rừng sẽ bị trôi đi rất nhanh (vận tốc lớn), tạo thành LŨ. Ví dụ sau cơn mưa lớn 2 giờ liên tục tạo ra 300mm nước đổ xuống RỪNG SẢN XUẤT, xuống nương, rẫy, đất cây công nghiệp các loại, gần như 99% số nước này ào ạt đổ về xuôi, tạo thành LŨ LỚN BÙN ĐỎ có VẬN TỐC LỚN cuốn trôi tất cả. Không còn rừng tự nhiên để hấp thụ và phanh lại được 150mm nước, để cắt giảm 50% LŨ đổ về xuôi. Nên nhớ là rừng còn rất nhiều giá trị rất quí, rất hữu ích khác nữa để bảo vệ con người.  

 

TT/ST  10:  Thời Pháp thuộc, rừng tự nhiên, rừng nguyên sinh chiếm 43% diện tích lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay đã giảm xuống, chỉ còn 15% mà thôi. Nhưng có đến 66% rừng tự nhiên đang là rừng nghèo suy kiệt; 30% là rừng trung bình; chỉ khoảng 4% là rừng giàu. Trải qua gần 100 năm phát triển, rừng tự nhiên đã bị thay thế bằng rừng sản xuất (trồng cây lấy gỗ và làm giấy), rừng cây công nghiệp (cao su, chè, tiêu, cà phê, cacao, điều, mắc ca…) rừng cây lương thực (ngô, khoai, sắn), rừng cây ăn quả (cam, chanh, quít, bưởi, na, nhãn, mít, vải…), cộng với đất ở, đất đô thị, đất làm đường giao thông… Đất dành cho thủy điện là vô cùng nhỏ bé, rất không đáng kể, là muỗi so với những hoạt động phát triển chuyển đổi đất nói trên (Land use change).

 

TT/ST  11:  Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, chỉ tính riêng trong vòng 5 năm (từ 2010-2014), tổng diện tích rừng Tây Nguyên đã giảm tới hơn 0,3 triệu ha; độ che phủ của rừng giảm 6,1%. Các nguyên nhân chính là do chuyển đổi rừng và phá rừng ĐỂ TRỒNG CAO SU, CÂY CÔNG NGHIỆP, CÂY ĂN QUẢ; XÂY THỦY ĐIỆN, HẠ TẦNG GIAO THÔNG, CÔNG TRÌNH CÔNG CỘNG, LẤN CHIẾM ĐẤT RỪNG ĐỂ CANH TÁC, SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP.

Như vậy là THỦY ĐIỆN CÓ GÂY MẤT RỪNG, nhưng THỰC SỰ LÀ QUÁ NHỎ BÉ so với các hoạt động khác của con người, không như chúng ta ngộ nhận.

 

TT/ST 12:  Trên báo Danviet.vn có bài “Nước mắt Trà Leng - Đòn thịnh nộ "nhầm chỗ" của thiên nhiên?”, đăng ngày 30/10/2020. Tác giả tự giới thiệu có gần 20 năm làm báo ở miền Trung, từng lặn lội khắp các khu rừng, bản làng.  Tác giả viết “Riêng tại huyện Nam Trà My, nơi vừa xảy ra 2 vụ sạt lở kinh hoàng, đã gánh 4 thủy điện nhỏ, siêu nhỏ. Một giọt nước qua hàng chục tua bin và cái giá cho mỗi MW điện là hàng chục héc ta rừng, đa phần là rừng già, rừng tự nhiên, đầu nguồn, có tác dụng phòng hộ, giữ nước... bị cạo trọc không thương tiếc”.

 

TT/ST  13:  Nếu 4 thủy điện nhỏ, siêu nhỏ tạo thành thủy điện bậc thang, trên cùng một con sông hay suối, thì một giọt nước chỉ chảy qua 4 tua bin mà thôi, không thể qua hàng chục tua bin được. Vô lý lắm.

 

TT/ST 14:  Thông tin này hoàn toàn trái ngược với thông tin: “Ông Huỳnh Khánh Toàn – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam vừa có tờ trình số 3363 đề xuất HĐND tỉnh bổ sung 4 thủy điện vừa và nhỏ tại khu vực huyện Nam Trà My, có tổng công suất 78,8 MW, sản lượng điện hàng năm 258,32 triệu kWh.  Tổng diện tích chiếm đất của 4 dự án là 144,27 ha (bình quân 1,83 ha/1MW). Trong đó: Đất lâm nghiệp là 60,1 ha (2,44 ha đất quy hoạch rừng phòng hộ và 57,66 ha đất quy hoạch rừng sản xuất, hiện trạng chủ yếu là rừng tre nứa và rừng trồng), không ảnh hưởng đến đất ở, đất lúa, đất sản xuất của người dân” (Nguồn: website Trithucvn.org, ngày 12/7/2017).

 

TT/ST  15:  Ông Đỗ Đức Quân, Phó cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho biết "Các thủy điện khi xây dựng đã phá đi diện tích rừng nhất định, nhưng họ phải đóng góp chi phí phục hồi rừng hàng năm. Đây là khoản tiền được trả trực tiếp cho người dân giúp họ có sinh kế mới không vào rừng khai thác như trước đây nữa. Hiện các nhà máy thủy điện đã trồng được 33.000 ha rừng… Theo Nghị quyết 62 năm 2014, tổng diện tích các loại đất để sử dụng cho 1MW điện chỉ khoảng 1,89 ha. Từ năm 2016, riêng rừng tự nhiên không lập quy hoạch để xây dựng thủy điện.

 

TT/ST  16:  Hai thông tin trên của quản lý Nhà nước Trung ương và cấp địa phương là phù hợp với nhau. BÌNH QUÂN 1MW THỦY ĐIỆN NHỎ CHIẾM KHOẢNG 1,85 HA ĐẤT mà thôi. Thông tin của nhà báo 1 MW thủy điện chiếm hàng chục ha rừng là không đúng, nặng cảm tính. Cần nhớ là tổng diện tích đất các loại để làm thủy điện, sẽ được CHUYỂN THÀNH CHỦ YẾU DIỆN TÍCH LÒNG HỒ. Phần rất nhỏ để xây đập, nhà sản xuất, nhà điều hành và trạm biến áp. Diện tích lòng hồ của thủy điện nhỏ và siêu nhỏ không thể như thủy điện Hòa Bình được.

 

VẬY QUI MÔ THỦY ĐIỆN MIỀN TRUNG HIỆN NAY VÀ TRONG TƯƠNG LAI SẼ ĐẾN ĐÂU, CHIẾM BAO NHIÊU ĐẤT RỪNG?

 

TT/ST  17:  Tổng công suất thủy  điện có tiềm năng kỹ thuật của nước ta vào khoảng 26.000MW (26 GW), trong đó 60% tập trung tại miền Bắc, 27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khu vực miền Nam, hàng năm có thể sản xuất hơn 100 tỷ kWh điện. (Nguồn: Thủy điện Việt Nam: Tiềm năng và thách thức, ngày 14/09/2015 tại website Nangluongvietnam.vn).

 

TT/ST  18:  Mới nhất là tại bản dự thảo tháng 9/2020 “Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045”, còn gọi là Quy hoạch Điện lực 8, do Bộ Công thương trình Thủ tướng Chính phủ có ghi rõ Nguồn thủy điện đã được khai thác gần hết. Hiện tại toàn quốc có khoảng 17GW nguồn thủy điện lớn trên 30MW và 3,4GW nguồn thủy điện nhỏ (dưới 30MW). Tiềm năng xây dựng thủy điện lớn còn lại chỉ khoảng 2,6 GW, dự kiến sẽ khai thác và đưa vào vận hành trong giai đoạn 2020-2025. Tiềm năng thủy điện nhỏ còn khoảng 2,8GW, dự kiến khai thác hết vào năm 2045.

30 năm qua thủy điện nhỏ trên cả nước đã đạt công suất 3,4GW, tương đương 3.400MW. Vậy thủy điện nhỏ ở miền Trung đã lắp đặt là 3.400MW x 27% = 918MW, tương ứng với diện tích chiếm đất là 918MW x 1,85 = 1.698 ha.

 

TT/ST  19:  Tóm lại 30 năm phát triển vừa qua, thủy điện nhỏ ở miền Trung đã sử dụng 1.700 ha đất, chủ yếu là đất trên các sông, suối và chân rừng. Trong vòng 25 năm nữa, nếu thủy điện nhỏ không bị kết tội phá rừng, sẽ khai thác khoảng 1.400 ha đất vào năm 2045.

 

TT/ST  20:  Thủy điện có chiếm đất, phá rừng. Tôi công nhận điều đó, nhưng chỉ ít như vậy thôi, chủ yếu là rừng ở chân đồi  núi. Không thể có rừng trên lòng sông, lòng suối. Làm đường giao thông cũng phải chiếm đất, phá rừng. Điều này cũng đương nhiên. Đường ở miền xuôi, đồng bằng chỉ chiếm đất nhưng không phá rừng. Tôi nhất trí. Nhưng đường ở miền núi thì bắt buộc phải phá rừng, không có cách nào khác được.

 

TT/ST  21:  Tuyến đường Hồ Chí Minh dài 3.167km, bắt đầu từ Pác Bó đến Đất Mũi Cà Mau, riêng đoạn miền Trung còn có đường Hồ Chí Minh Đông và đường Hồ Chí Minh Tây, cộng với đường biên giới nữa, có thể nói là những tuyến đường phải trả giá đắt nhất về mất mát rừng tự nhiên, đa dạng sinh học đối với miền Bắc và miền Trung. Con đường hoành tráng xẻ dọc và ở trên đỉnh Trường Sơn này làm xong chỉ để ngắm, để nhìn, thuận lợi cho lâm tặc phá rừng nhiều hơn. CÔNG SUẤT KHAI THÁC CÓ 10% (Nguồn: Vi.wikipedia.org đường Hồ Chí Minh).

 

TT/ST  22:  Thủy điện nhỏ miền Trung đã chiếm 1.700 ha đất và rừng. Vậy cây sắn ở miền Trung chiếm bao nhiêu đất và rừng? Theo những số liệu của Tổng cục Thống kê và website của UBND các tỉnh, tổng diện tích trồng sắn của các tỉnh miền Trung năm 2019 là 320.693ha, gấp 189 lần thủy điện!!!.

 

TT/ST  23:  Ngoài ra, nếu miền Trung tham gia thực hiện tốt đề án phát triển nhiên liệu sinh học, chính sách xăng E5 tại Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”, sẽ cần thêm khoảng 320.000ha đất rừng chuyển đổi hợp pháp thành đất trồng sắn. Như vậy, tổng quĩ đất cho trồng sắn trong tương lai ở các tỉnh miền Trung sẽ khoảng gần 650.000ha!!!. so với khoảng 3.000 ha thủy điện nhỏ.

 

TT/ST  24:  Thực sự oan cho thủy điện miền Trung; bị truyền thông có tổ chức và cộng đồng mạng đập cho tơi bời nhiều năm tháng. Bộ Công thương và ngành xăng dầu đương nhiên sẽ kiên định thực hiện Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg, vì đó là lợi ích hợp pháp của họ. Phá rừng hợp pháp sướng hơn nhiều, nhàn hơn nhiều, qui mô hơn nhiều so với phá rừng bất hợp pháp do lâm tặc cưa chặt từng cây, chuyển gỗ lậu về xuôi. Các doanh nghiệp thường đề xuất những dự án đẹp, phát triển kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm cho dân sở tại, tăng thu cho ngân sách địa phương  làm lãnh đạo các địa phương hoa mắt, nhìn đất rừng tự nhiên thành đất rừng sản xuất, rừng nghèo, dễ dàng chuyển đổi thành đất hợp pháp của doanh nghiệp để trồng bạt ngàn cà phê, cao su hay xây dựng khu du lịch, khu công nghiệp...

 

TT/ST  25:  Cây sắn ưa đất đồi, là cây “tham ăn” dinh dưỡng. Đã thành truyền thống người dân trồng sắn, sau vài ba vụ, đất bị bạc mầu, năng suất thấp, sẽ bỏ đất hoang, tiếp tục vào sâu trong rừng. Chỉ cần 1 mồi lửa đốt rừng khai phá mảnh đất mới để trồng sắn. Nhiều nơi còn phải bổ sung phân hóa học và thuốc trừ sâu mới có sắn thu hoạch.

 

TT/ST  26:  CHÍNH SÁCH XĂNG E5, CHỈ CÓ HOÁN ĐỔI 5 LÍT XĂNG RON92 BẰNG 5 LÍT ETHANOL ĐẮT GẤP 200% là cái ô hợp pháp để rừng bị phá mạnh hơn.

 

 

TT/ST  27A:  Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp ( Bộ NN và PTNT) trên phạm vi cả nước, từ năm 2012 -2017, diện tích rừng tự nhiên đã bị mất do chặt phá rừng trái pháp luật mất chiếm 11%, 89% còn lại do chuyển mục đích sử dụng rừng tại những dự án được duyệt (phá rừng hợp pháp).

 

TT/ST  27 B:  Có ý kiến của đại biểu Quốc hội tại nghị trường cho rằng LỢI DỤNG THỦY ĐIỆN ĐƯỢC CẤP PHÉP CÁC CHỦ DỰ ÁN ĐẦU TƯ ĐÃ TRANH THỦ KHAI THÁC RỪNG, PHÁ RỪNG (phá rừng bất hợp pháp). Thủy điện lãi ít, nhưng gỗ quí của rừng thì lãi rất nhiều. Buồn là ý kiến này tuyệt nhiên không có căn cứ, không có bằng chứng, không có chứng minh. Cho đến nay, qua 30 năm phát triển, chưa một cơ quan công an, cảnh sát điều tra hay cơ quan kiểm lâm tiến hành điều tra, khởi tố chủ dự án thủy điện nào trên phạm vi cả nước, về hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng dự án thủy điện để lấn chiếm và tàn phá rừng. Ranh giới, diện tích đất giao cho dự án thủy điện chính xác đến đơn vị mét và được chính quyền địa phương theo dõi, giám sát. NẾU CÓ GIAN LẬN để lấn đất cũng không thể xây vi la, biệt thự  trong khuôn viên dự án thủy điện và có bán cũng chẳng ai mua. Cáo buộc này đồng nghĩa với đánh giá thấp chủ đầu tư dự án thủy điện đã bỏ cái lợi của 30 – 40 năm khai thác thủy điện cho một đợt khai thác lậu gỗ quí của rừng. Giá thành của 1kWh thủy điện đang là thấp nhất so với tất cả các loại điện hiện có. Chủ đầu tư dự án không thể chấp nhận rủi ro, hy sinh nhiều tỷ đồng vốn đầu tư ban đầu và lợi ích lâu dài lấy lợi ích ngắn hạn  và có thể bị vào tù. VÀ CŨNG KHÔNG THỂ VÌ MỘT VÀI DỰ ÁN THỦY ĐIỆN VI PHẠM PHÁP LUẬT PHÁ RỪNG MÀ NGOẠI SUY CHO TẤT CẢ CÁC DỰ ÁN THỦY ĐIỆN NHỎ Ở KHẮP NƠI PHÁ RỪNG, GÂY LŨ, LỤT VÀ SẠT LỞ ĐẤT ĐAI KHẮP MIỀN TRUNG, Ở CẢ NHỮNG NƠI MÀ KHÔNG HỀ CÓ THỦY ĐIỆN.

 

KẾT LUẬN: THỦY ĐIỆN CHIẾM ĐẤT RỪNG VÔ CÙNG NHỎ, RẤT KHÔNG ĐÁNG KỂ SO VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN KHÁC.

 

II. THỦY ĐIỆN VÀ SẠT LỞ ĐẤT

 

TT/ST  28:  Thảm họa nặng nề nhất trong cả tháng 10/2020 ở miền Trung là sạt lở đất đai do mưa lớn, vỡ đồi đổ ập xuống chôn vùi nhà cửa gây thiệt hại sinh mạng. Cụ thể như sau:

  1. Đêm ngày 11/10 sạt lở đất đã chôn vùi khu lán trại công nhân và nhà điều hành, cách đập Thủy điện Rào Trăng 3 (Thừa Thiên Huế) khoảng 500m, đang trong quá trình xây dựng, chôn lấp 17 người. 40 người thoát nạn (bao gồm cả những người bị thương nhẹ) trong đó có 3 chuyên gia Ấn Độ.
  2. Trưa ngày 12/10 lãnh đạo UBND tỉnh nhận được tin thảm họa. Hai giờ chiều cùng ngày, đoàn gồm 21 cán bộ, sĩ quan, chiến sĩ lên đường vào Thủy điện Rào Trăng 3 cứu trợ. Trên đường đi, đoàn quyết định nghỉ tối và qua đêm tại Trạm kiểm lâm 67. Đoàn đã có ý thức về sạt lở đất đai nên đã cử hai người đi kiểm tra xung quanh. Kết quả trinh sát cho thấy ngôi nhà còn cách đồi núi một đoạn ngắn, ngọn núi thấp, tương đối an toàn. Trạm được xây dựng kiên cố, nằm ở khu vực không quá dốc, xung quanh trạm có cây rừng tự nhiên. Thế mà 0 giờ ngày 13/10 vỡ đồi, đất lở lăn xuống chôn vùi 13 người, 8 người sống sót và bị thương nhẹ.
  3. Gần sáng ngày 18/10 sạt lở đồi núi, vùi lấp nhà hậu cần, nhà xe thuộc khu doanh trại Đoàn kinh tế quốc phòng 337 thuộc Quân khu 4 (thôn Cợp, xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hoá, Quảng Trị), có mặt tiền là đường Hồ Chí Minh Tây. Hai ngôi nhà liền kề rất may là tường xây khá kiên cố, vững chắc nên không bị xô đổ. 22 chiến sĩ đã hy sinh.
  4. Chiều ngày 28/10, mưa lớn của trận bão số 9 (bão Molave) đã làm vỡ một quả đồi tại thôn 1, xã Trà Leng (huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam) vùi lấp các nhà nằm men khe suối, cuốn trôi nhà cửa ra suối, vào sông và đi xa. Trong 55 người gặp nạn, cứu được 33 người, tìm được 8 thi thể, 14 người mất tích sau một tuần vẫn chưa tìm thấy.

 

TT/ST  29:  Thảm họa miền Trung mùa bão lũ năm 2020 có đặc điểm là LŨ ĐẤT, không phải LŨ NƯỚC. Một yếu tố không ngờ nữa là toàn vỡ những quả đồi mà phía dưới là có nhà, có người đang ngủ vào đêm.

Như vậy không có một logic nào để qui kết thủy điện nhỏ ở miền Trung gây 4 vụ sạt lở đất nói trên.

 

TT/ST  30:  Khi nói đến SẠT LỞ ĐẤT chúng ta cần nghĩ ngay đến KẾT CẤU ĐẤT, MƯA VÀ ĐỘ DỐC CỦA ĐỒI. Kết cấu đất bở tơi, không kết dính, nên sạt lở là chuyện khó tránh khỏi khi có mưa nhiều. Sau đó là đến độ che phủ rừng tự nhiên giúp bảo vệ đất khỏi rửa trôi, giảm sạt lở đất. Trạm kiểm lâm 67 xung quanh toàn là rừng tự nhiên thế mà vẫn có sạt lở đất; chứng tỏ kết cấu đất đai vùng này khá tơi, bở.

 

TT/ST  31:  Vụ sạt lở cuốn trôi tại thôn 1 xã Trà Leng cho thấy rừng đầu nguồn bị tàn phá nặng nề. Vô vàn các thân gỗ bị cưa, chặt trôi nổi, dầy đến 0,5m và kín đặc sông. Chủ yếu là cây keo tràm, nhánh, lau lách, lá cây. Rừng đầu nguồn vùng này là rừng sản xuất, rừng trồng không phải rừng tự nhiên hữu ích đối với phòng chống lũ. Rừng sản xuất, rừng trồng chỉ hơn chút ít so với đất trồng cà phê, cao su, sắn, tiêu…

 

 

MẤT RỪNG TỰ NHIÊN, GIA TĂNG SẠT LỞ ĐẤT ĐAI LÀ ĐÚNG. Đất không có rừng che trở nên bị sạt lở và rửa trôi là đương nhiên. Nhưng thủy điện lớn và nhỏ ở miền Trung trong 30 năm phát triển vừa qua chiếm đất và rừng nhiều lắm chỉ 1.700ha. Quá nhỏ, hoàn toàn không đáng kể so với những hoạt động phát triển kinh tế khác chiếm đất, phá rừng như trồng sắn, các cây công nghiệp khác, hay rừng sản xuất, đặc biệt là đường Hồ Chí Minh Tây và đường Hồ Chí Minh Đông và đến đường biên giới xẻ dọc đỉnh Trường Sơn. 1.700 ha đất là quá nhỏ so với 321.000 ha đất đồi trồng sắn hiện đang có ở miền Trung và sẽ cần thêm 320.000 ha đất rừng nữa để sản xuất đủ ethanol phục vụ chính sách xăng E5 của Bộ Công thương.

 

TT/ST  32:  Oan cho các nhà máy thủy điện miền Trung trong khi các nhà máy thủy điện tương tự ở miền Bắc và miền Nam lại được hoan nghênh. Vì vậy, cái kết tội cho thủy điện miền Trung chẳng khoa học, chẳng logic tý nào.

 

TT/ST  33:  Thế giới hiện cũng bó tay đối với chống sạt lở các con đường uốn lượn trên các sườn đồi  núi. Không thể bê tông hóa, kiên cố các ta luy phòng chống sạt lở cho các con đường. Tiết kiệm và rẻ tiền nhất hiện nay vẫn là sạt lở đâu, sửa chữa đó.

 

TT/ST  34:  VIỆC DỰ BÁO LŨ QUÉT VÀ SẠT LỞ ĐẤT LÀ KHÔNG THỂ. Ông Trịnh Xuân Hòa, Phó viện trưởng Khoa học Địa chất và Khoáng sản (Bộ Tài nguyên và Môi trường), đơn vị thực hiện đề án "Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo trượt lở đất đá các vùng miền núi Việt Nam" cho biết Đề án được làm từ năm 2012 , hiện đã lập được 15/37 bản đồ phân vùng cảnh báo sạt lở, mức độ cảnh báo đến từng xã với khoảng 15.000 điểm có kết cấu đất tơi bở, dễ trượt lở. Mặc dù bản đồ cảnh báo hiện chưa hoàn thành, nhưng ông nghĩ các cấp địa phương có thể dựa vào đó đưa ra được PHƯƠNG ÁN DI DÂN, ĐỊNH CƯ PHÒNG TRÁNH HỢP LÝ, hạn chế được phần nào thiệt hại.

 

KHÔNG THỂ KẾT TỘI CHO THỦY ĐIỆN TẠO RA 15.000 ĐIỂM CÓ KẾT CẤU ĐẤT TƠI BỞ, DỄ TRƯỢT LỞ. THỦY ĐIỆN KHÔNG HỀ LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TẠO, KẾT CẤU ĐẤT.

 

TT/ST  35:  Điển hình, mẫu mực trong phòng tránh sạt lởhuyện Tây Giang thuộc chính tỉnh Quảng Nam nằm sát biên giới Việt – Lào. Cách đây 14 năm huyện đã di dời 115 ngôi làng với 19.000 người rời khỏi những vùng không an toàn, nằm men các khe suối hoặc cheo leo trên các sườn núi, đến nơi an toàn tuyệt đối trên tổng diện tích 63ha. Phó chủ tịch UBND huyện Tây Giang Lê Hoàng Linh đã báo cáo thành tích này tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam vừa rồi; được cho là huyện đã “đi trước thời đại” trong phòng chống sạt lở.  Nếu huyện Nam Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam cũng làm như huyện Tây Giang sẽ chẳng có tai nạn thôn 1, xã Trà Leng.

 

III. ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN CẮT LŨ, GIẢM LỤT CHO HẠ DU

 

TT/ST  36:  Tất cả các chuyên gia thiết kế thủy lợi – thủy điện Việt Nam, cũng như toàn Thế giới đều khẳng định XÂY ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN LỚN VỚI MỤC ĐÍCH SỐ 1 LÀ CẮT LŨ, GIẢM LỤT CHO HẠ LƯU. Sản xuất điện là mục đích phụ thứ nhất. Mục đích phụ thứ hai là điều tiết nước cho nông nghiệp vào mùa khô. Mục đích phụ thứ ba là tăng cường giao thông thủy.

 

TT/ST  37:  Hà Nội có độ cao trung bình từ 5 – 7m. Trung bình mực nước biển được Thế giới qui chuẩn có độ cao là 0m. Ngày 20/8/1971 mực nước sông Hồng lên 14,3 m ở Hà Nội, cao hơn báo động III đến 1,3 mét. Để cứu Hà Nội, Chính phủ đã cho phá đê ở Chương Mỹ (Hà Tây) để phân lũ bớt. Cùng thời điểm đó Gia Lâm và Bắc Ninh cũng vỡ đê. Trận “Đại hồng thủy lịch sử năm 71” đã làm hơn 600 người thiệt mạng, có 20 xã, 1 huyện bị ngập hoàn toàn.

 

TT/ST  38:  Đó là lý do chính để ngày 4/10/1971, ông Podgornưi, Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô bay sang Việt Nam. Ngày 7/10/1971 ký Thông báo chung và Hiệp định hợp tác Việt Nam - Liên Xô về Thủy điện. Mục tiêu chống lũ cho Hà Nội: Phải chịu được lũ khổng lồ với lưu lượng 37.800 m3/giây, có thể 200 năm mới xẩy ra một con lũ như vậy.

Đại công trình thủy lợi - thủy điện Hòa Bình, khởi công ngày 06/11/1979, khánh thành ngày 20/11/1994, tổng chi phí 1,5 tỷ USD, tương đương 1.450 tấn vàng thời gian đó, được Liên Xô viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam.

 

TT/ST  39:  Đại hồ thủy điện này có thể chứa gần 9 tỷ m3 nước. Lũ coi như giải quyết xong. Phía Liên Xô chỉ băn khoăn là tổng công suất 1.920 MW, hàng năm sản xuất khoảng 8,6 tỷ kWh điện. Miền Bắc sẽ thừa điện, không biết các đồng chí Việt Nam sẽ “đổ” đi đâu. Đó là lý do để ngày 5/4/1992 cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát lệnh khởi công xây dựng hệ thống truyền tải điện siêu cao áp 500kV Bắc - Nam. Ngày 27/5/1994 tại Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia, ông cũng phát lệnh hòa hệ thống điện hai miền Nam – Bắc.

 

TT/ST  40:  Dưới đây là khá nhiều những văn bản pháp lý cho thấy việc vận hành, xả nước của các đập hồ thủy điện vô cùng nghiêm túc, được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, theo những qui trình được các cấp quản lý Nhà nước phê duyệt.

  1. Nghị định số 160/2018/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai.
  2. Nghị định số 114/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ về quản lý an toàn đập, hồ chứa nước.
  3. Nghị định số 112/2008/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ về quản lý, bảo vệ, khai thác tổng hợp tài nguyên và môi trường các hồ chứa thủy điện, thủy lợi.
  4. Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.
  5. Nghị định số 43/2015/NĐ-CP ngày 06 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ quy định lập, quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước.
  6. Quyết định số 03/2020/QĐ-TTg ngày 13 tháng 01 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai.
  7. Quyết định số 1606/QĐ-TTg ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Hương.
  8. Thông tư số 03/2012/TT-BTNMT ngày 12 tháng 4 năm 2012 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định việc quản lý, sử dụng đất vùng bán ngập lòng hồ thủy điện, thủy lợi.
  9. Thông tư số 65/2017/TT-BTNMT ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật xác định dòng chảy tối thiểu trên sông, suối và xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa.
  10. Thông tư số 47/2017/TT-BTNMT ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giám sát khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
  11. Thông tư số 09/2019/TT-BCT ngày 08 tháng 7 năm 2019 của Bộ Công Thương quy định về Quản lý an toàn đập, hồ chứa thuỷ điện.

 

TT/ST  41:  Không hề có một lý do, động lực hấp dẫn mạnh mẽ nào để thúc đẩy đơn vị, tổ chức vận hành đập hồ thủy điện vi phạm qui trình pháp luật để xả lũ gây ngập lụt cho hạ lưu.

 

TT/ST  42:  Những người nói đập hồ thủy điện xả lũ gây ngập lụt cho hạ lưu lại không thể đưa ra  những phân tích, chứng minh xác đáng cho điều này. Vì vậy, đó chỉ là một KẾT LUẬN, KẾT TỘI vô căn cứ, được lặp đi lặp lại, nói đi nói lại nhiều năm tháng trên các phương tiện truyền thông chính thống. Tôi đọc tìm mãi nhưng không hề thấy một bài báo, công trình nghiên cứu nào chứng minh khách quan và khoa học về mối liên hệ giữa vận hành thủy điện và lũ lụt hạ du. Những người phê phán chỉ biết phê phán. Cùng lắm thì “Mọi người nói thế, báo chí viết thế, nhà khoa học X nói thế, nên tôi nói vậy”.

 

TT/ST  43:  Hay là có kẻ nào phá hoại, khi vận hành đập hồ thủy điện trong mùa mưa cố tình xả lũ? Không thể, vì vận hành thủy điện có cả một ê kíp làm việc, nhiều người theo dõi, giám sát, kiểm tra lẫn nhau để tuân thủ nghiêm từng bước của qui trình vận hành cắt lũ đã được phê duyệt.

 

Hay có một nhân viên nào đó vận hành sai sót do lỡ, do nhầm, do quên. Nếu có chăng nữa chỉ là 1 hiện tượng và chỉ 1 đến 2 lần mà thôi. Không thể có chuyện lỡ, nhầm lặp đi lặp lại nhiều lần. Nếu lỡ 1 lần do sai sót của con người, vậy tại sao lại ngoại suy thành phổ cập, phổ biến, rồi qui tội cho thủy điện.

 

TT/ST  44:  Trên Thế giới chưa một nhà khoa học nào, hay một thám tử điều tra, cơ quan cảnh sát công an nào chứng minh được rằng lũ lụt đang ngập nhà dân ở hạ lưu là do cái đập hồ thủy điện ở phía trên đang xả lũ gây ra. Báo chí, truyền thông Việt Nam rất ngộ, cứ thấy ngập lụt ở hạ lưu, là kết tội cho thủy điện phá rừng và đơn vị vận hành đập hồ thủy điện gây ra. Họ không hề nhìn thấy một yếu tố rất hiển nhiên, rất đời thường là NGẬP, LỤT DO TẮC CỐNG, TẮC KÊNH, TẮC MƯƠNG, LŨ KHÔNG THỂ THOÁT ĐƯỢC VÀO SÔNG VÀ ĐỔ RA BIỂN. CÓ NƠI CÒN TẮC CẢ SÔNG VÌ NHIỀU CỬA SÔNG ĐÃ ĐẦY PHÙ SA VÀ CỒN CÁT.

 

TT/ST  45:  Truyền thông, báo chí nếu muốn kết tội chính xác, khách quan do việc xả lũ của đập hồ thủy điện, họ cần thực hiện một việc rất nhẹ nhàng và đơn giản sau: Trước lũ, quan sát cột đo mực nước trong hồ, ví dụ đang ở mức 100m. Sau lũ quan sát mức nước trong hồ. Nếu mực nước vẫn là 100m, có  nghĩa là lũ về hồ và xả về xuôi là bằng nhau. Hồ không có tác dụng cắt lũ cho hạ lưu, nhưng hoàn toàn không làm tăng nặng cho hạ lưu. Nếu mực nước ngay sau lũ quan sát, ví dụ là 80m. Có nghĩa là ngoài lũ tự nhiên đổ về xuôi, ê kíp vận hành đã xả thêm về xuôi 20m nước trong hồ, làm gia tăng lũ cho hạ lưu. Bao nhiêu người, quanh năm, ngày tháng, kết tội cho thủy điện xả lũ, nhưng không một ai làm cái việc rất đơn giản này. Ngược lại, nếu mực nước trong hồ quan sát sau lũ, ví dụ là 120m có nghĩa là hồ đã tích thêm 20m nước nữa, góp phần CẮT LŨ cho hạ lưu. Những ai đó nếu có quá ghét THỦY ĐIỆN LỚN, muốn dẹp bỏ thủy điện, có mà nằm mơ cũng không thể bắt gặp hiện tượng mực nước trong hồ sau lũ lại thấp so với trước lũ (ví dụ 80m/100m).

 

TT/ST  46:  Nếu ai đó trong số những người qui tội cho thủy điện xả lũ, đọc xong Qui trình vận hành hồ chứa thủy điện A Lưới (tổng công suất lắp đặt 170MW), được ban hành kèm theo Quyết định số 2094 /QĐ-UBND ngày 17 tháng 8 năm 2020 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (luôn có trên mạng) sẽ toát mồ hôi và từ bỏ suy nghĩ chủ quan và đầy cảm tính của mình, kết tội hồ thủy điện xả lũ gây ngập lụt vùng xuôi.

 

TT/ST  47:  Theo định nghĩa của tổ chức UNIDO Liên Hợp quốc về THỦY ĐIỆN NHỎ (Small Hydropower Plant), được đa số các nước trên Thế giới sử dụng, là thủy điện có công suất lắp đặt dưới 10MW (< 10MW). Hầu hết các thủy điện nhỏ không có hồ chứa tích nước (khi đập dâng cao nước, với hai bờ của sông hay suối, tạo thành một ao chứa nước, headpond). Ao này chỉ đủ để tích nước vào ban đêm, phục vụ cho việc phát điện vào ngày hôm sau. Vì chỉ là cái ao nên có thể gọi thủy điện này là thủy điện con cóc, ít nước lắm. Nếu qui tội cho thủy điện con cóc xả lũ gây ngập lụt cho hạ lưu thì rất buồn cười.

 

IV. SỰ PHÁT TRIỂN Ở HẠ LƯU MỚI LÀ NGUYÊN NHÂN CHÍNH GÂY NGẬP LỤT:

 

TT/ST  48:  Có thể có người ghét thủy điện nói với tôi, ngay cạnh  cửa xả lũ thủy điện, như dưới đây:

- Ông nhìn thấy thủy điện A Lưới đang xả lũ ào ạt chưa? Tôi trả lời là có, tôi đang nhìn thấy. Đúng vậy.

- Ông có thấy ở hạ lưu, xã B cách thủy điện 10km đang ngập lụt kinh chưa? Tôi trả lời là có, đúng xã B đang ngập lụt (do có một người bạn đang livestream  trực tiếp cho chúng tôi xem qua Youtube).

- Đấy, thấy chưa, chứng minh thực tế, sự thật đấy. Thủy điện A lưới đang xả lũ và xã B ở hạ lưu đang ngập lụt. Mở mắt ra chưa?

 

TT/ST 49:  Theo tôi đó là hai thực tế, sự thật, nhưng chưa đủ để chứng minh chúng có quan hệ chặt chẽ, logic với nhau, A là nguyên nhân gây ra hệ quả B. Chưa đủ để kết luận ngập lụt ở xã B là hệ quả của việc thủy điện phía trên xả lũ. Vì sao?

 

TT/ST  50:  Vì nhiều xã, nhiều đô thị, thành phố ở Việt Nam bị ngập lụt sau mưa mà phía trên nó, thượng lưu chẳng có đập hồ thủy điện nào. Đảo ngọc Phú Quốc (Kiên Giang) là một minh chứng. Đảo tuyệt nhiên không hề có một đập hồ thủy điện nào, thế mà tuần đầu tháng 8/2019 trải qua trận lụt lịch sử, kinh hoàng. Có nơi, nhà bị ngập đến 2m, ngập đầu. Dân cuống cuồng chạy lụt. Buồn là hết mưa rồi nhưng nước vẫn không rút ngay đi cho, vẫn cứ dai dẳng đeo bám khu này. Biển chung quanh rất gần, mà nước không thể thoát ra được. Vì cống, sông, suối là những đường thoát nước đã bị lấn chiếm, bị tắc rồi. Do vậy lũ chỉ thoát nhỏ giọt thôi. Nhà của bạn nếu chậu và bồn rửa bị tắc, nước không thoát đi được, bắt buộc bạn phải gọi thợ đến, chỉ để thông tắc cống mà thôi.

 

TT/ST  51:  Duy nhất chỉ có thể kết luận xả nước của thủy điện trong lũ là nguyên nhân gia tăng lũ cho hạ lưu là MỰC NƯỚC TRONG HỒ THỦY ĐIỆN SAU LŨ PHẢI NHỎ HƠN TRƯỚC LŨ.

 

TT/ST  52:  Mưa lớn, mưa to là chuyện của Trời. LŨ lớn là do phá rừng tự nhiên, rừng đầu nguồn, mất đi một cái PHANH HÃM NƯỚC chảy tràn bề mặt về xuôi. LỤT là do trên đường đi LŨ bị chặn lại, bị cản lại do phát triển đô thị, làm đường, làm nhà mà không cần làm cống thoát LŨ.

 

TT/ST  53:  Chúng ta chỉ làm cống còm, nhỏ bé, để thoát nước sinh hoạt, tắm giặt, vệ sinh toilet. Nếu có đầu tư làm cống thoát LŨ chúng ta cũng chỉ làm cống còm, nhỏ bé để đối phó với những cơn mưa nhỏ bé. Chẳng ai nghĩ đến làm cống chống trọi với những cơn mưa lớn 5 năm, hay 10 năm mới có một lần.

 

TT/ST  54:  Dọc các tỉnh duyên hải miền Trung vô vàn đường giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ, xã lộ, đường trong thôn xóm, đường cao tốc quốc gia theo hướng Bắc – Nam, đường sắt Thống Nhất, nhưng không một chuyên gia nào khi thiết kế con đường nghĩ đến đặt cống thoát  LŨ, cho chảy tiếp về xuôi. Lũ từ đỉnh Trường Sơn chảy về mé Đông để thoát ra biển đã bị tầng tầng, lớp lớp các đường lớn bé, đủ loại, song song theo hướng Bắc – Nam chặn lại.

 

TT/ST  55:  Sông ngòi, kênh rạch là nơi để thoát lũ đều bị nhà cửa lấn chiếm. Người dân hồn nhiên đóng cọc tre để làm nhà ở dọc sông. Đất lấn chiếm dọc sông không phải mất tiền mua. Nếu có phải mua lại của người khác thì cũng với giá bèo. Mọi thứ rác thải,  nước thải đổ ngay vào sông, kênh, mương. Quá tiện!. Mương, rãnh, cống thoát nước khắp làng quê đều là những nơi tiếp nhận rác thải, nước thải. Vậy mưa vừa cũng ngập lụt chẳng cần đến mưa to.

 

TT/ST  56:  Hà Nội và Tp. HCM đã vay nhiều ODA đầu tư bê tông hóa các con sông, kênh mương, tiện thể thu hẹp luôn lòng sông bằng mở rộng đường hai bên bờ, lấn sông. Nhiều nơi kênh, mương thoát nước rộng từ 10m – 15m, nay biến thành đường, dưới là cống ngầm thoát LŨ rộng có 2m. Tạo hóa đã sinh ra sông, kênh, rạch chỉ để thoát LŨ, nay bị xóa sổ, thu hẹp lại nên LŨ không đường thoát tất nhiên phải gây ra LỤT.

 

TT/ST  57:  Hà Nội và Tp. HCM cũng đã vay cả núi tiền ODA đầu tư xây dựng 3 nhà máy xử lý nước thải lớn nhất Đông Nam Á để bắt các con sông của Hà Nội và kênh, mương rộng trên 20m ở Tp. HCM thất nghiệp, nằm chơi ghen tị với những tuyến cống ngầm sâu từ 6 – 12m, đường kính từ 2 – 3m dẫn LŨ về nhà máy XLNT. Quá tải, tắc cống đương nhiên sẽ là ngập, lụt cho vùng đó.

 

TT/ST  58:  Đó là nhà máy XLNT Bình Hưng công suất ngày 469.000 m3/ngày cho lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến nghé – Kênh Đôi – Kênh Tẻ. Đó là dự án XLNT cho lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, công suất thiết kế là 480.000m3/ngày. Đó là dự án XLNT Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì), cho nửa Tây của Hà Nội (lưu vực sông Lừ, sông Tô Lịch và sông Nhuệ), công suất 270.000 m3/ngày. Ba đại dự án XLNT này đang và sẽ làm gia tăng mạnh mẽ ngập úng những vùng liên quan. Chứng minh chi tiết xin xem tại website nguyenducthang.vn, chuyên mục Bộ Xây dựng với XLNT.

 

TT/ST  59:  Đường, phố, ngõ trên khắp đất nước Việt Nam nổi tiếng nhiều đất, cát, sỏi, rác thải. Những thứ này bị nước mưa đẩy chui xâu vào trong các cống ngầm. Vậy TẮC CỐNG Ở ĐÂU ĐÓ là chuyện đương nhiên và thường xuyên. Từ vị trí cống bị tắc ngược về đầu cống, nước ngập ứ, tràn mặt đường, mặt phố, vào nhà dân. Từ vị trí tắc cống trở về xuôi, ra đến cửa xả cống là thông thoáng nhưng nước chảy rất ít. Thông tắc cống, móc là công việc bẩn thỉu, nhiều rủi ro, khó khăn, vất vả, lương thấp không ai muốn làm.

 

 

Mưa lớn là do ông Trời, nhưng ngập lụt là do con người gây ra, do chúng ta chặn hết đường thoát của lũ.

 

V. PHONG TRÀO PHÁ BỎ ĐẬP Ở CÁC NƯỚC CHÂU ÂU?

 

Vậy căn cứ vào đâu để báo chí, truyền thông, cộng đồng mạng xã hội  vẫn kiên định qui tội cho thủy điện nhỏ là nguyên nhân gây ra lũ, lụt và sạt lở đồi núi ở miền Trung?

 

TT/ST  60:  Ngày 29/10/2020 tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn online đăng bài “Hóa ra thủy điện lại gây hại lớn cho môi trường” của bút danh Thư Kỳ. Dưới đây là trích dẫn nguyên văn một số ý của tác giả:

Một nghịch lý đang diễn ra. Việc xây dựng các đập thủy điện ở châu Âu và Mỹ đạt mức đỉnh vào thập niên 1960 và nay họ đang phá bỏ dần những con đập này, trả lại dòng chảy tự nhiên cho các con sông sau khi nhiều nghiên cứu chứng tỏ những dự án thủy điện này gây hại lớn cho môi trường… Theo Tổ chức Dam Removal Europe, trong vòng 20-25 năm qua chừng 5.000 con đập nhỏ khắp châu Âu đã được phá bỏ, trả lại dòng chảy tự nhiên cho sông. Ở Mỹ, theo Hãng Tư vấn Princeton Hydro, trong vài thập niên gần đây đã có chừng 1.200 con đập lớn nhỏ được dỡ bỏ, tạo ra một hiệu ứng rất tích cực lên hệ sinh thái của nước này”.

 

TT/ST  61Tuy nhiên tác giả vẫn phải ngậm ngùi nêu một thực tế sau đây Ngược lại, ở các nước đang phát triển, số liệu năm ngoái cho thấy có chừng 3.700 đập thủy điện đang được xây dựng hay lên kế hoạch xây dựng, trong đó tính riêng cho lưu vực sông Amazon đã có đến 147 dự án”.

 

TT/ST  62:  Hóa ra căn cứ của tác giả là Châu Âu và nước Mỹ, những nước rất văn minh họ đang phá bỏ rất nhiều đập thủy điện, Việt Nam cũng nên học theo họ. Lý do này có vẻ rất thuyết phục. Kiến thức và trí tuệ của Châu Âu và Mỹ khỏi phải nói, tôi rất kính nể. Liên quan đến khoa học và công nghệ, họ làm gì, nói gì, theo tôi chỉ có đúng. Tuy nhiên tôi là người ủng hộ thủy điện lớn và nhỏ, như những lập luận tôi phân tích và trình bầy ở trên. Vậy tôi sai ở chỗ nào nhỉ? Tôi cần phải vào website của Tổ chức Dam Removal Europe để nghiên cứu, tìm hiểu, cập nhật kiến thức cho bản thân. Chỉ cần Google cụm từ đó là dễ dàng nhìn thấy website damremoval.eu. Tôi vào đọc và cảm thấy say mê, hấp dẫn. Sau khoảng 2 giờ đọc tôi thấy nhẹ cả người, vì những suy nghĩ của tôi chẳng có gì mâu thuẫn với tổ chức này cả. Tôi là người yêu môi trường sinh thái, đồng nhịp trái tim với họ. Tôi là người ủng hộ thủy điện, họ cũng là người ủng hộ thủy điện. Tôi đã học được nhiều kiến thức của họ về môi trường sinh thái.

 

Hóa ra là tác giả của bài báo nghe vậy và viết vậy. Tác giả đã vào website của họ nhưng đọc lướt, chưa hiểu hết ý của thiên hạ; thành ra hiểu sai và vận dụng sai. Sẵn ghét thủy điện vô căn cứ nên khi nghe thiên hạ nói DAM REMOVAL IN EUROPE là vui, là mừng: “Đấy! Châu Âu văn minh như vậy, người ta đã và đang phá bỏ nhiều nghìn đập thủy điện, thế mà các nước đang phát triển vẫn lao đầu vào làm, trong đó có Việt Nam. Thảm họa miền Trung trong tháng 10 vừa qua là minh chứng rõ nhất, phải dẹp bỏ thủy điện!”.

 

TT/ST  63:  Tác giả đã máy móc chỉ hiểu DAM là đập thủy điện và vào website của họ chỉ đọc lướt. Giống hệt hầu hết các nhà khoa học ngoại thương chỉ hiểu BUSINESS  là kinh doanh (hoạt động kinh doanh), nên đã dịch BUSINESS ADMINISTRATION = QUẢN TRỊ KINH DOANH. Chẳng ai chịu  đọc câu định nghĩa ở ngay trang đầu, chương đầu của sách giáo khoa. Business trong ngành học này được định nghĩa là DOANH NGHIỆP. Vậy đó là môn học QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP, khoa học, ngành học về quản lý doanh nghiệp. Khi đã dịch đúng, rất nhiều người trong chúng ta không cần đến lớp, đến trường học vẫn có thể nói ra khá đầy đủ và chính xác những nội dung, nội hàm của môn học này. Khi dịch chính xác sẽ hiểu luôn nội hàm của môn học.

 

TT/ST  64:  Khi vào đọc website của tổ chức DAM REMOVAL EUROPE  (phá bỏ đập) tôi mới hiểu rằng mục đích của họ hoàn toàn không phải là phản đối thủy điện, vận động phong trào đòi phá dỡ các đập thủy điện. Mục đích tối thượng của tổ chức này là thực hiện liên minh, liên kết vận động phá bỏ tất cả những gì mà con người làm ra để ngăn cản, thu hẹp dòng chảy của sông, suối (vật cản, cống, đập tràn, rào cản = obstacles, barriers, weirs, gates, culverts, sluices, hydropower dams). Hydropower dams được họ hiểu là các đập thủy điện đã quá cũ, quá đat, hết vòng đời khai thác, hết tuổi thọ, vô tích sự.

 

TT/ST  65:  Những hồ thủy điện đang vận hành, còn tốt, hay những vị trí sông suối còn tiềm năng khai thác kỹ thuật, đối với họ là quí đấy. Họ sẽ tìm cách giảm thiểu tác động của thủy điện này đối với thủy sinh vật. Ví dụ làm các bậc thang để cho các loài cá thích lội ngược dòng dễ dàng vượt qua đập thủy điện nọ đến đập thủy điện kia, bơi lên đến tận thượng nguồn của sông. Họ rất cưng cá, nhưng cũng không phá bỏ đập thủy điện còn mới, còn tốt, còn dùng được.

 

TT/ST  66:  Họ đã phát hiện ở Châu Âu có hơn triệu những vật cản chặn dòng chảy của các con sông. Họ đã viết nguyên văn như sau: Các dòng sông ở Châu Âu là đầy cá? Không phải! Đúng hơn là đầy những chướng ngại, vật cản. Có đến hơn 1 triệu những vật cản chặn dòng các con sông của chúng ta, như chỉ ra ở bản đồ dưới đây. Ngày càng nhiều những vật cản đang được phát hiện ra mỗi ngày”:

 

Họ đã phá vỡ nhiều vạn những công trình chặn dòng chảy như một số hình ảnh điển hình dưới đây mà họ công bố:

 

TT/ST  67: 

 

 

TT/ST 68 – 72: Dưới đây là một số hình ảnh tiêu biểu về cống, đập v.v.. trước và sau phá dỡ trả lại dòng chảy tự do cho nước và thủy sinh

 

Theo ông Kim Birnie-Gauvin (Trường Đại học Kỹ thuật Đan Mạch) dạng đập tràn (weirs) như thế này bị dỡ bỏ ở Đan Mạch có hơn 10.000 cái.

 

TT/ST  73:  Đập thủy điện lớn nhất Châu Âu mà họ vận động phá dỡ thành công đó là đập The Vezins tại nước Pháp. Đập cách vịnh Mont-Saint-Michel 17km, được xây dựng trên sông Sélune. Đập cao 36m, dài 278 m, hồ chứa rộng 200 ha, đưa vào sử dụng năm 1932 (xem ảnh dưới), gần 90 tuổi.

 

 

TT/ST  74:    Đập thủy điện lớn nữa có tuổi đời gần 100 năm được phá dỡ. Đó là đập Kermansquillec trên sông Léguer, hoàn thành năm 1920, cung cấp điện cho nhà máy sản xuất giấy. Đập cao 15, dài 110m, chiếm đất 12ha.

 

VI. QUAN ĐIỂM CỦA THẾ GIỚI VỀ THỦY ĐIỆN

 

TT/ST  75:  Thủy điện là điện năng lượng  tái tạo (NLTT) đầu tiên mà con người sử dụng. THỦY ĐIỆN LÀ MỘT NGÀNH KHOA HỌC  - CÔNG NGHỆ KHAI THÁC SỬ DỤNG SỨC NƯỚC THÀNH ĐIỆN NĂNG PHỤC VỤ CON NGƯỜI. Cách đây 140 năm, nhà máy thủy điện đầu tiên, công suất 12,5kW được khánh thành vào ngày 30/9/1880 trên sông Fox tại Appleton, bang Wisconsin Mỹ.  Đập thủy điện lớn thứ nhì Thế giới hiện nay là đập Itaipu trên sông Parana chạy dọc biên giới Brazil và Paraguay, có công suất 14.000MW. Đập thủy điện lớn nhất Thế giới là đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang, Trung Quốc, có công suất là 22.500MW, lớn gấp gần 12 lần thủy điện Hòa Bình của Việt Nam.

 

TT/ST  76:  Hai cơ quan là Năng lượng quốc tế (IEA) và cơ quan Năng lượng  tái tạo quốc tế (IRENA) và toàn Thế giới luôn đánh giá cao vai trò của thủy điện, liên tục và kiên trì thúc đẩy sự phát triển của thủy điện. Trong điện NLTT hiện nay, thủy điện lớn chiếm tỷ lệ 54% cộng với thủy điện nhỏ 7% thành 61%. Kế đến điện gió chiếm tỷ lệ 22%, điện mặt trời là 11%, điện sinh khối (biomass) 5% và địa nhiệt là 1%.

 

TT/ST  77:  Xét về chi phí và giá thì thủy điện là điện năng rẻ nhất trong tất cả các loại điện (than, xăng dầu, khí, điện gió và điện mặt trời, biomass, địa nhiệt). IRENA đã công bố những kết quả tính toán, nghiên cứu ở qui mô toàn cầu về chi phí sản xuất điện NLTT các loại trong năm 2018, cụ thể như sau: Chi phí qui dẫn có trọng số LCOE để sản xuất 1kWgiờ điện lần lượt như sau: Thủy điện là 47 cents Mỹ (giảm 11% so với năm 2017); điện gió trên bờ 56 cents (- 13%); điện sinh khối, biomass 62 cents (- 14%); điện địa nhiệt 72 cents ( - 1%); điện mặt trời 85 cents (- 13%); điện gió ngoài khơi 127 cents (- 1%). Như vậy là thủy điện, điện gió trên bờ, điện sinh khối và điện mặt trời vẫn tiếp tục giảm giá mạnh.

 

TT/ST  78:  Thế giới phân tích các điểm mạnh, điểm yếu giữa các loại điện NLTT nói trên, từ đó chỉ ra các biện pháp khắc phục, để thúc đẩy hơn nữa điện NLTT phục vụ con người. Chưa có một tổ chức, cơ quan chuyên về năng lượng nào trên Thế giới khuyên, hay kiến nghị dừng phát triển thủy điện vì những tác hại do chiếm đất, phá rừng, gây sạt lở đất đai và xả lũ gây ngập lụt cho hạ lưu. Duy nhất chỉ thấy có ở Việt Nam.

 

TT/ST  79:  Thế giới chỉ tranh luận về những thủy điện siêu lớn, điểm mạnh, điểm yếu. Đối với điểm mạnh thì hoan nghênh, đối với điểm yếu cần tìm giải pháp khắc phục. Đó cũng chính là mục đích, bản chất của qui định Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với các dự án thủy điện. Không có và chưa tồn tại một ĐTM nào đối với dự án thủy điện tiến tới khuyến nghị dẹp bỏ dự án.

 

TT/ST  80:  Trên vi.wikipedia.org tại bài viết về thủy điện Hòa Bình, mục Nguy cơ, nguyên văn như sau Các chuyên gia đã tính toán và đưa ra cảnh báo: "Nếu vỡ đập thuỷ điện Hoà Bình thì toàn bộ 6 tỉnh đồng bằng Bắc bộ ven sông Hồng sẽ bị cuốn trôi ra biển chỉ trong một ngày. Và Hà Nội sẽ ngập dưới 30 mét nước tính từ chỗ cao nhất của nhà ga Hàng Cỏ”. Tương tự sẽ là khủng khiếp gấp nhiều lần nếu vỡ đập Tam Hiệp ở Trung Quốc. Tuy nhiên nếu vì sợ như vậy thì chúng ta không thể phát triển được.

 

TT/ST  81:  Theo tôi các chuyên gia tính toán đã chém gió quá mức, không chịu tính, cứ phán đại. Tôi đã chịu khó mất dăm phút để tính diện tích 6 tỉnh đồng bằng Bắc bộ ven sông Hồng gồm Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Hải Phòng và Thái Bình = 3.345km2 + 1.648km2 + 923km2 + 3.823km2 + 1.526km2 + 1.545km2 = 12.811km2 (tôi có sẵn quyển tập bản đồ hành chính Việt Nam). Sau đó tôi giả thiết là vỡ đập ở mức độ cạn đáy, vỡ triệt để, toàn bộ 9 tỷ m3 nước của hồ Hòa Bình đổ ụp xuống 6 tỉnh trên = 9 tỷ m3 : 12,8 tỷ m2 = 0,7m nước!!!. Tôi lấy 30m chia cho 0,7m bằng 42,8 lần phóng đại.

 

TT/ST  82:  Có nhà khoa học còn nói đập Tam Hiệp của Trung Quốc chứa một lượng nước khổng lồ, có thể làm sự chuyển động của Trái đất chậm lại. Một trí tưởng tượng vĩ đại. May là nhà khoa học không đưa ra con số cụ thể Trái đất chuyển động chậm lại bao nhiêu giây mỗi ngày. Để toàn Thế giới phải hiệu chỉnh lại ngày, tháng, năm. Tuy nhiên khối lượng nước chứa trong đập Tam Hiệp nếu so với nước của hồ Baikal của Nga là muỗi. Những đại dương khổng lồ chứa nước như Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương v.v.. đâu có làm Trái đất quay chậm lại.

 

TT/ST  83:  Tại báo cáo thường niên của Ủy hội sông Mê Công: State of the Basin report 2018 (SOBR 2018), năm nào cũng như năm nào, luôn có thông tin sau: Bình quân lưu lượng nước hàng năm của con sông Lan Thương, từ các đập hồ thủy điện phía Trung Quốc đổ vào Lào chảy về xuôi:

a) Vào MÙA KHÔ đã tăng lên 35%, từ giai đoạn 2000 – 2009 đến giai đoạn 2010 – 2017.

b) Vào MÙA MƯA lại giảm 31%, từ giai đoạn 2000 – 2009 đến giai đoạn 2010 – 2017.

Điều đó cho thấy TÁC DỤNG TÍCH CỰC CỦA CÁC ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN TRUNG QUỐC LÀ CẮT GIẢM LŨ VÀO MÙA MƯA, GIA TĂNG NƯỚC CHO HẠ LƯU VÀO MÙA KHÔ. Mọi đập hồ thủy điện ở Việt Nam, hay ở miền Trung cũng được vận hành và có tác dụng như vậy. Số liệu, ghi chép, nhật ký vận hành thủy điện hàng ngày đều có.

 

TT/ST  84:  Vậy đập hồ thủy điện có nhược điểm gì? Tác động môi trường và tác động xã hội của nó ra sao? Chả lẽ lại không có. Có chứ, đương nhiên rồi. Vì tôi hiểu, tôi đã nghiên cứu về Đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Tôi đã đọc những báo cáo này đối với một số dự án thủy điện. Tôi lại là một người rất yêu môi trường và kiên định bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, đề cập, phân tích về ĐTM thủy điện ở đây nữa là thừa, không cần thiết, không liên quan đến điều tôi muốn bảo vệ thủy điện trước những kết tội vô căn cứ THỦY ĐIỆN NHỎ LÀ NGUYÊN NHÂN PHÁ RỪNG, GÂY LŨ, SẠT LỞ ĐẤT VÀ TĂNG XẢ LŨ GÂY NGẬP LỤT CHO HẠ LƯU.

 

Tôi tiếp tục chứng minh một điều nữa là Thế giới đang làm hết mình để phát triển thủy điện nhỏ, vì lợi ích to lớn mà thủy điện nhỏ mang lại cho người dân sở tại.

Mời các bạn vào đọc tài liệu này:

 

 

TT/ST  85:  BÁO CÁO PHÁT TRIỂN THỦY ĐIỆN NHỎ 2019 (Báo cáo lần 3). Báo cáo đầu tiên của tổ chức UNIDO, Cơ quan phát triển Công nghiệp của Liên Hợp quốc, hợp tác với Trung tâm quốc tế Phát triển thủy điện nhỏ (ICSHP) vào năm 2013. Báo cáo lần hai vào năm 2016.

 

TT/ST  86:  Nhà máy/dự án thủy điện nhỏ được Việt Nam qui định từ 1MW đến 30MW (theo Quyết định 3454/QĐ-BCT ngày 18/10/2005). Liên Hợp quốc và đa số các nước trên Thế giới định nghĩa là có công suất dưới 10MW (nhỏ nhất là 10kW = 0,01MW).  Có nghĩa là Thế giới quan tâm cả các dự án thủy điện siêu nhỏ, công suất 10kW họ vẫn làm, trong khi Việt Nam dưới 1000kW bỏ đi.

 

TT/ST  87:  Tôi xin trích dẫn một số ý của trang mở đầu cho báo cáo của ông LI Yong Tổng giám đốc tổ chức UNIDO Liên Hợp quốc để bạn đọc có suy nghĩ chuẩn hơn về thủy điện nhỏ, từ đó bỏ việc kết tội oan cho thủy điện nhỏ:

“…Thế giới đã có những tiến bộ rất đáng khích lệ về nhiều mặt, với sự phối hợp hành động nhằm xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ rừng và biển của chúng ta, và làm cho các thành phố  của chúng ta xanh hơn, khỏe hơn… Còn nhiều triệu dân trên Thế giới hiện đang không được tiếp cận với nước sạch và năng lượng bền vững.

Thủy điện nhỏ là một trong những giải pháp có chi phí thấp, đơn giản, thực tế và dễ chi trả đối với họ. Khi triển khai với ý thức kinh tế - xã hội – môi trường, thủy điện nhỏ sẽ đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận năng lượng tái tạo cho cộng đồng dân cư vùng xâu vùng xa, cộng đồng yếu thế, dễ bị tổn thương, tạo cơ hội công ăn việc làm cho thế hệ trẻ, mở rộng khả năng tăng trưởng các doanh nghiệp nhỏ, và góp phần chống biến đổi khí hậu.

Những công nghệ thủy điện nhỏ là rất dễ phù hợp với những điều kiện sở tại, kể cả về địa lý và cơ sở hạ tầng khác nhau. Hơn thế nữa, thủy điện nhỏ lại có chi phí thấp nhất, giá điện rẻ nhất so với những công nghệ điện không nối lưới khác.

Tổ chức UNIDO đã hợp tác với Trung tâm quốc tế về Thủy điện nhỏ công bố Báo cáo Phát triển Thủy điện nhỏ 2019. Nội dung giàu có của báo cáo là kết quả của sự cố gắng tập thể của hơn 200 tác giả và tổ chức góp sức từ khắp nơi trên Thế giới.

Tôi tin rằng báo cáo không chỉ hữu ích đối với ai tham gia trong lĩnh vực năng lượng bền vững, còn có ích cho cộng đồng phát triển toàn cầu, thực hiện những mục tiêu tham vọng đến năm 2030, phát triển nhưng không để ai ở lại phía sau”.

 

Báo cáo này rất dài, viết rất đầy đủ và toàn diện về sự phát triển thủy điện nhỏ ở từng châu lục và từng nước, trong đó có Việt Nam. Tôi xin trích dẫn một vài số liệu từ báo cáo:

TT/ST  88:  Châu Âu có tỷ lệ phát triển thủy điện nhỏ cao nhất Thế giới. Các nước Tây Âu đã khai thác đến 85% tiềm năng thủy điện nhỏ của họ. Na Uy năm 2017 thủy điện chiếm đến 96% tổng điện năng sản xuất cả nước (143 tỷ kWh/149,3 tỷ kWh), 2,3% là nhiệt điện, 1,7% còn lại là điện gió. Năm 2017 Na Uy có 1.599 nhà máy thủy điện, tổng công suất là 31.837MW. Trong đó 1.259 nhà máy là thủy điện nhỏ, chiếm 78%, với 881 là nhà máy siêu nhỏ (chiếm 70%), là loại thủy điện không có hồ chứa (run-of-river). Nếu có chỉ là ao rất bé (headpond), chỉ tích nước vào ban đêm để chạy phát điện vào ngày hôm sau. Tổng công suất thủy điện nhỏ là 2.571MW. 66% số nhà máy thủy điện nhỏ được xây dựng trong giai đoạn 2000 – 2018. Tổng công suất đang xây dựng hoặc đã được cấp phép là 1.726MW. Tổng cộng chiếm đến 55% tiềm năng kỹ thuật thủy điện nhỏ của đất nước. 45% còn lại sẽ khai thác tùy thuộc vào nhu cầu dùng điện của đất nước trong tương lai. Giá điện cho sinh hoạt chưa thuế là 5 cents Mỹ/1kWh. Tóm lại đất nước Na Uy phát triển nhờ vào thủy điện.

 

TT/ST  89:  Đất nước Bắc Âu thứ hai là Thụy Điển. Với tổng công suất 39.991MW, năm 2016 sản xuất 152,6 tỷ kWh điện. Trong đó thủy điện chiếm 40%, 40% tiếp theo là điện hạt nhân, 10% là điện gió, 10% còn lại là nhiệt điện kết hợp; không có nhiệt điện than. Nhà máy thủy điện đầu tiên của đất nước được xây dựng cách đây 140 năm (năm 1880). Đất nước Thụy Điển hiện có hơn 1.800 nhà máy thủy điện nhỏ, chủ yếu tập trung ở phía Nam, sản xuất hàng năm hơn 3 tỷ kWh điện (chiếm khoảng 5% sản lượng thủy điện). Hầu hết các nhà máy thủy điện nhỏ là dạng không có hồ chứa, không có khả năng cân đối, điều tiết nước.

 

TT/ST  90:  Trung Quốc là nước dẫn đầu Thế giới về tổng công suất các nhà máy thủy điện nhỏ (dưới 10MW), chiếm 54% tổng thủy điện nhỏ toàn cầu.

 

TT/ST  91:  Báo cáo của UNIDO viết về thủy điện nhỏ của Việt Nam theo tôi là trung thực, chính xác, khách quan. Tuy nhiên là những thông tin buồn vì ngành điện lực của Việt Nam phát triển theo xu thế ngược 180 độ so với Thế giới. Tôi xin trích dẫn như dưới đây:

Tại trang 141 và tiếp theo: “Theo Quy hoạch Điện lực 7 được Chính phủ phê duyệt tháng 7/2011 và điều chỉnh vào tháng 3/2016 tỷ trọng sản lượng thủy điện vào năm 2020 sẽ giảm xuống 28,7%, vào năm 2030 giảm tiếp xuống 17,8%. Đất nước sẽ tăng cường, đẩy mạnh phát triển nhiệt điện than đạt 53% vào năm 2030… Việt Nam qui định thủy điện nhỏ là thủy điện có công suất từ 1MW đến 30MW. Tính đến tháng 3/2017 đã có 206 dự án với tổng công suất thủy điện nhỏ được lắp đặt ở Việt Nam. Tiềm năng thủy điện nhỏ còn khoảng  7.200MW… Chính phủ cũng khởi động việc loại bỏ các dự án thủy điện nhỏ ra khỏi kế hoạch, kể cả những dự án đang xây dựng… Ví dụ tháng 10/2013 loại bỏ 418 dự án có tổng  công suất 1.174MW ra khỏi kế hoạch phát triển thủy điện của đất nước. Ba năm sau đó, vào năm 2016 Bộ Công thương đã quyết định loại bỏ 471 dự án thủy điện nhỏ và thủy điện bậc thang, có tổng công suất 2.059MW ra khỏi Quy hoạch Điện lực 7. Trong đó có 8 dự án có tổng công suất 655MW (bình quân 82MW/dự án). Cụ thể là Pa ma, Huoi Tao, Sông Giang, Đức Xuyên, Đồng Nai 6, Đồng Nai 6A, Tả Lại và Ngọc Dinh. 463 dự án còn lại là những dự án thủy điện nhỏ, công suất dưới 30MW. Ngoài ra Bộ Công thương cũng đã từ chối 213 dự án thủy điện tiềm năng khác”

 

TT/ST  92:   “Quy hoạch phát triển Điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020, có xét đến năm 2030”, còn gọi là Qui hoạch Điện lực 7 điều chỉnh, được Bộ Công thương trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 428/2016/QĐ-TTg, ngày 18/3/2016 đã suy tôn nhiệt điện than lên vai trò quân vương, trụ cột nền kinh tế, chiếm đến 53,2% tổng sản lượng điện vào năm 2030, điện khí 16,8%, cắt giảm thủy điện mạnh mẽ về 15,5%, điện hạt nhân 5,7%, điện mặt trời khoảng 3,3%, điện gió là 2,1% và điện sinh khối 2,1%. Như vậy là Bộ Công thương đã chọn mô hình điện thập kỷ 60, độc quyền và phi dân chủ cho tương lai phát triển của đất nước.

 

TT/ST  93:  Tôi đọc báo cáo của UNIDO tôi không thấy đất nước nào loại bỏ các dự án thủy điện nhỏ ra khỏi kế hoạch, quy hoạch đã được phê duyệt để thay vào đó là nhiệt điện than như Việt Nam. Quá buồn!.

 

TT/ST  94:   Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), bình quân tỷ trọng nhiệt điện than của toàn Thế giới đạt đỉnh cao nhất vào năm 2013 là 41,3%, đã giảm xuống 38% vào năm 2017. Sau thỏa thuận Paris 2015 sẽ nhanh chóng giảm xuống 24,4% vào năm 2030, và giảm tiếp xuống 11% vào năm 2050. Động lực phát triển kinh tế của toàn Thế giới là năng lượng sạch, năng lượng tái tạo (NLTT).

 

TT/ST  95:   Theo tài liệu Global Shift (Chuyển dịch toàn cầu) của Greenpeace.org tháng 10/2017:

1) Các quốc gia hầu như không có điện than: Albania, Belarus, El Salvador, Ghana, Latvia.

2) Các quốc gia đã chấm dứt hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn điện than: Belgium (2016), Scotland (2016), Austria (2025), Canada (2030), Finland (2030), France (2023), Netherlands (2030), New Zealand (2022), Portugal (2030), Sweden (2030), United Kingdom (2025).

3) Các bang của Mỹ đã chấm dứt hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn nhiệt điện than: California (2014), Ontario (2014), Massachusetts (2017), New York state (2020), Oregon (2020), Connecticut (2021), Hawaii (2022), Washington state (2025), New Mexico (2030).

4) Các thành phố đã hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn nhiệt điện than: Bắc Kinh (2017), Delhi city (2018), Berlin (2030).

 

TT/ST  96:  Thủy điện sẽ tồn tại vĩnh hằng là nguồn NLTT, như năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh khối, những nguồn năng lượng rất phân tán, phi tập trung SẼ TẠO NÊN NỀN ĐIỆN LỰC DÂN CHỦ, VẼ LẠI BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH TRỊ TOÀN CẦU VÀ ĐẢM BẢO AN NINH NĂNG LƯỢNG CHO LOÀI NGƯỜI PHÁT TRIỂN. Bản đồ địa chính trị Thế giới hiện nay được hình thành trên cơ sở những quốc gia sở hữu giầu có nguồn năng lượng hóa thạch (than, dầu, khí, đá phiến). Những nước còn lại phụ thuộc vào họ nhiều hơn.

 

TT/ST  97:   Một lợi ích rất to lớn nữa của thủy điện nhỏ mà tôi muốn đề cập là hiện nay và trong tương lai nguồn nước sạch phục vụ cho mục đích sinh hoạt sẽ rất khan hiếm. Phổ biến nhiều vùng xâu, vùng xa, miền núi người dân không có nước sạch để ăn uống, tắm, giặt. Cuộc sống của họ rất khổ cực vì không được tiếp cận nước sạch như dân cư ở các thành phố, đô thị, đồng bằng. Miền núi có nơi dân phải đi bộ vài km để gùi và gánh vài can nước suối về tích để dùng. Các thủy điện nhỏ, siêu nhỏ là rất hữu ích trong việc tích trữ, cung cấp nước sạch cho bà con.

 

 

Xin mời bạn đọc thêm bài phân tích, chứng minh: “VIỆT NAM KHÔNG CÓ KHOA HỌC, CHỈ CÓ KIÊU NGẠO VÀ CÔNG NGHỆ NGOẠI NHẬP”

 

Trân trọng cám ơn bạn đọc.

Nguyễn Đức Thắng, Hà Nội ngày 18/11/2020

 

LÀM VIỆC VỚI MPI
LÀM VIỆC VỚI MPI
THỦY ĐIỆN NHỎ KHÔNG CÓ TỘI, LỖI DO CON NGƯỜI GÂY RA
THỦY ĐIỆN NHỎ KHÔNG CÓ TỘI, LỖI DO CON NGƯỜI GÂY RA
KHÔNG THỂ CÓ GIAN LẬN TRONG BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở MỸ
KHÔNG THỂ CÓ GIAN LẬN TRONG BẦU CỬ TỔNG THỐNG Ở MỸ
VỀ BIẾN THỂ MỚI CỦA nCOV
VỀ BIẾN THỂ MỚI CỦA nCOV
VỀ MỘT BÀI THƠ TÌNH “I AM AFRAID” (ANH SỢ)
VỀ MỘT BÀI THƠ TÌNH “I AM AFRAID” (ANH SỢ)