NHỮNG THẤT BẠI CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
Ngày đăng: 19-11-2018 - 23:07:02

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2018

 

Kính gửi:

 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ

Bộ trưởng Bộ Công thương

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Bộ trưởng Bộ Xây dựng

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Bộ trưởng Bộ Tài chính

Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội

Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

 

(Về NHỮNG THẤT BẠI CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM)

 

Tôi tên là Nguyễn Đức Thắng, cán bộ đã về hưu năm 2008. Tôi được Nhà nước cử đi học tập và chuyển tiếp nghiên cứu tại nước CHXHCN Tiệp Khắc từ năm 1967 – 1977, có quá trình công tác gồm hơn 10 năm tại Viện Kỹ thuật quân sự Bộ Quốc phòng, khoảng 10 năm tại Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam) và 10 năm cuối tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

 

Chiều 3/11/2018, tại Văn phòng Chủ tịch nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gặp mặt thân mật gần 60 học sinh, sinh viên tiêu biểu, xuất sắc và căn dặn “Các cháu đã học giỏi, nhưng phải phấn đấu trong người vừa có đức, vừa có tài, trong đó đức là gốc. Tài cực kỳ quan trọng, không có tài làm sao xây dựng được đất nước, nhưng các cụ cũng đã nói “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”; phải nhớ “tiên học lễ, hậu học văn”.

Đảng ta đã từ lâu lấy tư tưởng, đạo đức, phong cách và lối sống của Bác Hồ là kim chỉ nam cho việc xây dựng cương lĩnh, đường lối, chính sách phát triển đất nước và cho công tác xây dựng Đảng. Theo Bác Hồ việc biết tiếp thu và sửa chữa khuyết điểm là một phẩm chất chính trị tốt.

Hội nghị Trung ương 8, khoá XII đã ra nghị quyết quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Ban chấp hành Trung ương, cho thấy những lãnh đạo cao nhất của đất nước đang rất nghiêm khắc với bản thân, vậy lẽ nào cấp dưới lại không thực hiện, không nhận sai và sửa sai?

Những năm gần đây, toàn dân thường được nghe trên TV, đài báo thông tin về Thủ tướng Chính phủ quan tâm, lắng nghe và kêu gọi các nhà khoa học trong và ngoài nước đóng góp ý kiến, hiến kế xây dựng đất nước, thậm chí cả những ý kiến trái chiều, khác quan điểm.

 

          Tôi yêu Môi trường và Khoa học, những năm gần đây tôi thấy chất lượng khoa học của nhiều tham mưu về chủ trương, chính sách, giải pháp mà các cơ quan Bộ, ngành trình Thủ tướng Chính phủ đang là rất báo động, có hại cho đất nước. Đã 60 năm hình thành và phát triển của Bộ Khoa học và Công nghệ, nhưng nền công nghiệp và nông nghiệp của Việt Nam vẫn chỉ là nhập khẩu máy móc, vật tư, thiết bị, mua công nghệ về gia công, lắp ráp, vận hành và làm thuê. Ngay cả những máy móc, thiết bị nằm trong các dây chuyền sản xuất ra sản phẩm “nội địa hóa” cũng đều là nhập ngoại; người Việt Nam chỉ vận hành. Đối với gần 30 năm đầu tư nước ngoài cũng vậy, người Việt Nam vẫn chỉ là những người làm thuê, vận hành máy móc, thiết bị làm ra sản phẩm, hàng hóa. Các nhà khoa học Việt Nam cho đến nay vẫn chưa tự sản xuất được ra công nghệ, hoặc chiếc máy cái để sản xuất ra những chiếc máy con.

 

Vấn đề TÀI và ĐỨC trong đội ngũ KH&CN là rất đáng buồn. Không cầu thị và tôn trọng các qui luật khoa học thì không thể có tiến bộ về KH&CN, cho dù hàng năm 2% của tổng chi ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp phát triển KH&CN luôn được đảm bảo. Cho dù Bộ KH&CN có coi 2% của tổng chi NSNN chỉ như vốn xóa đói giảm nghèo đối với nghiên cứu KH&CN, nhưng số tiền sẽ là quá to lớn nếu so với hoàn cảnh khó khăn của đất nước và so với kết quả gần như bằng không mà KH&CN đem lại. Thực ra 2% của tổng chi NSNN không phải là vốn xóa đói giảm nghèo, đúng ra là vốn phân hóa giàu nghèo vì phần lớn trong số vốn đọng lại ở các cấp lãnh đạo, có chức danh quản lý (cấp Nhà nước, Bộ, Cục, Vụ, Viện, Trưởng/Phó phòng, ban, Giám đốc trung tâm…). Vì chỉ những người như vậy mới được làm chủ nhiệm các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu. Hàng vạn những nhà khoa học không có chức vụ khó lòng chạm tới. Đã từ rất lâu, hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận rằng việc hợp thức hóa các chứng từ để thanh quyết toán các đề tài nghiên cứu đều là gian dối, xin chữ ký của người những người thân quen, mặc dù họ không tham gia làm cho đề tài.

 

 Đính kèm dưới đây là 12 bài tóm tắt (phục vụ cho những cán bộ hoạch định chính sách, chính trị gia) về những thất bại của KH&CN Việt Nam. Thực hiện tinh thần Chính phủ điện tử, giảm thiểu sử dụng giấy nhằm bảo vệ môi trường sinh thái, các bài viết chi tiết, đầy đủ xin mời đọc tại website nguyenducthang.vn với tiêu đề NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT NAM TRONG MỘT XÃ HỘI SINH THÁI. Nếu không có cách mạng trong quản lý KH&CN, đất nước Việt Nam không thể tiến xa.

Xin trân trọng cám ơn các quí lãnh đạo và mong nhận được phản hồi.

Nguyễn Đức Thắng,

ĐT 035 2344233, email: ndthangndt@yahoo.com

Địa chỉ thường trú:

 

 

THẤT BẠI 1: VIỆC XÁC ĐỊNH VÀ CÔNG BỐ NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT

 

Liên Bộ, ngành với hàng trăm nhà khoa học, với những máy móc thiết bị hiện đại nhất được ưu tiên huy động sử dụng, sau gần 3 tháng làm việc, từ ngày 6/4/2016 (xẩy ra thảm họa môi trường biển lịch sử Thế giới tại 4 tỉnh duyên hải miền Trung) đến ngày 30/6/2016, Văn phòng Chính phủ đã họp báo công bố kết luận chính thức về nguyên nhân cá chết là do CÁC ĐỘC TỐ PHENOL VÀ XIANUA KẾT DÍNH TRONG MỘT LỚP MÀNG NHẦY NHƯ TẤM CHĂN DI ĐỘNG, HÚT NHẢ ĐỘC TỐ GÂY RA. Thủ phạm chính xác là Formosa Hà Tĩnh. Nhưng kết luận về nguyên nhân cá chết thì rất sai và rất phản khoa học. Vì nó đối kháng với nhiều thực tế hiện trường, với một số qui luật môi trường tự nhiên, đối kháng với khái niệm trụ cột của môn độc tố học (toxicology), với thông lệ thế giới giải thích nguyên nhân cá chết hàng loạt sau một đêm.

 

Phần 1: Chứng minh bằng phương pháp thực tế loại trừ:

Thực tế 1: Theo báo điện tử Hà Tĩnh, khâu luyện than cốc đã đi vào sản xuất từ tháng 11/2015. Như vậy, từ ngày đó đến ngày 5/4/2016 trung bình ĐÃ ĐỔ hàng ngày khoảng 1000m3/ngày nước thải có chứa gần tấn các hợp chất phenol, xianua, ammonia và những độc tố khác nữa vào biển, liên tục 4 tháng liền mà không một con cá nào chết!. Các cháu học sinh tiểu học sẽ phải thốt lên “Tại sao cá không chết ngay trong tháng 11/2015 mà phải chờ đến ngày 6/4/2016 mới đồng loạt chết?

Chỉ riêng thực tế 1 này có thể nói Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 2: Trong nhân dân có câu “Một chất độc hay không độc còn tùy thuộc vào nồng độ hay liều lượng sử dụng nó”. Uống 1 chén giấm không sao, nhưng uống một lúc cả chai giấm sẽ nguy hiểm. Ăn 5 thìa đường không sao, nhưng ăn một lúc nửa cân đường sẽ nguy hiểm. Tất cả kết quả phân tích hàng trăm mẫu nước biển suốt dọc 4 tỉnh duyên hải miền Trung đều cho thấy nồng độ của phenol tổng và xianua là rất thấp, rất nhỏ, dưới QCVN 08:2008/BTNMT, rất an toàn cho tôm cá.

Chỉ riêng thực tế 2 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 3: Phenol tinh khiết (độc tính cao) hoàn toàn không tồn tại trong tự nhiên. Vì vậy, trong nước thải của khâu luyện than cốc chỉ tồn tại các hợp chất phenol dẫn suất có độc tính thấp. Trong tự nhiên tồn tại hàng ngàn các phenolic compounds khác có ích: trong nho, bưởi, chanh, cam, cà phê, đậu đen và những rau quả khác…

Chỉ riêng thực tế 3 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 4: Nước biển và đại dương gồm 96,7% là nước tinh khiết (H2O), xáo trộn đồng đều với 3,0% là muối ăn (NaCl), còn lại 0,3% cho tất tật mọi chất khác có thể do con người và tự nhiên (mưa, lũ rửa trôi bề mặt) đã đổ vào biển ngàn năm nay. Do vậy, nồng độ của tổng phenol hay xianua có trong nước biển sẽ là rất rất nhỏ, hoàn toàn an toàn cho tôm cá.

Ra ngoài biển khơi mênh mông mà nói đến một độc tố nào đó ở nồng độ cao đến mức làm cá chết bất đắc kỳ tử hàng loạt, trải dài 200km là chuyện kỳ lạ trong khoa học trên Thế giới.

Chỉ riêng thực tế 4 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 5: QCVN 01:2009/BYT về chất lượng NƯỚC ĂN UỐNG, qui định hàm lượng tối đa của 109 cácđộc tố” được phép có trong nước ăn uống, bảng dưới đây trích dẫn cho 4 thông số:

STT

Tên độc tố

Nồng độ mg/L

Thực tế nước biển 4 tỉnh miền Trung (mg/L)

1

Phenol tổng

0,001

dưới 0,005

2

Thuốc trừ sâu DDT

0,002

dưới 0,002

3

Xianua

0,07

dưới 0,005

4

Ammonia

3

dưới 0,3

Nếu không kể độ mặn, vi khuẩn vi trùng thì nước biển này uống tuyệt vời!!.

Chỉ riêng thực tế 5 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 6: Thực ra cá đã chết vì lỗi của nhà thầu phụ trong xử lý nước thải và sự cố mất điện, đã đổ vào biển 2.500m3 nước thải của công đoạn xúc rửa, tẩy gỉ một loạt các hệ thống đường ống kim loại. Công ty Formosa Hà Tĩnh khai báo đã sử dụng 245 tấn hóa chất cho công việc này, trong đó chủ yếu là axit clohydric (HCl) và xút (NaOH). Trong nước thải này có chứa khoảng 5 tấn cation sắt hai Fe2+ “tham ăn” oxy, làm cạn kiệt hết oxy hòa tan vốn luôn khan hiếm trong nước tầng đáy, tạo thành vùng chết kéo dài hơn 150km đối với tôm cá.

Chỉ riêng thực tế 6 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 7: Nồng độ Oxy hòa tan trong nước (dissolved oxygen, DO) ở đáy biển luôn là yếu tố sinh thái, giới hạn sự sống và phát triển (ecological limiting factor) của tất cả các loài tôm cá; là “khắc tinh” đối với chúng, nhất là về ban đêm. Nồng độ DO ở tầng đáy biển ban đêm trung bình 2 – 2,5mg/L. Vùng chết đối với tôm cá (dead zone) khi nồng độ DO < 2mg/L. Nước thải của khâu xúc rửa, tẩy gỉ các đường ống kim loại có chứa 5 tấn cation sắt hai (Fe2+ ) đã “tham ăn” cạn kiệt ô xy ở tầng đáy và chuyển hóa thành hydroxit sắt ba Fe(OH)3 kết tủa, mầu nâu vàng đến nâu đỏ, lắng đọng xuống đáy biển, tạo thành những màng phủ mỏng còn tươi mới, rải rác suốt 4 tỉnh miền Trung mà các thợ lặn đã quan sát thấy.

Cá đã chết vì thiếu oxy. Một cái chết an lành và nhân đạo.

Chỉ riêng thực tế 7 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Thực tế 8: Chưa bao giờ và không có nơi nào trên Thế giới giải thích nguyên nhân cá chết bất đắc kỳ tử ngoài biển khơi mênh mông là do các độc tố hóa học gây ra như ở Việt Nam. Có một vài vụ cá chết hàng loạt sau một đêm, nổi trắng ngoài biển cũng đều được Thế giới giải thích một cách thỏa đáng là do có yếu tố nào đó làm cạn kiệt ô xy hòa tan trong nước.

Chỉ riêng thực tế 8 này cũng đủ chứng minh Kết luận đã công bố là hoàn toàn sai.

 

Phần 2: Chứng minh bằng phân tích dựa trên những luận cứ khoa học

Phần 2 này chỉ có tính chất bổ sung, làm phong phú thêm cho 8 thực tế nói trên ở Phần 1. Vì thực tiễn là mẹ đẻ của những luận cứ khoa học (chi tiết tại website nguyenducthang.vn, chuyên mục HÓA HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG, bài viết “Cần trả lại chân lý khoa học cho kết luận về nguyên nhân cá chết”).

 

Việc kết luận cá chết vì các độc tố “tưởng tượng” phenol và xianua đã làm xã hội căng thẳng, biểu tình đã diễn ra ở một số nơi; sản xuất và kinh doanh của ngư dân vùng biển miền Trung bị đình đốn; các đại biểu Quốc hội đã gây sức ép lên Chính phủ và Bộ Tài Nguyên và Môi trường. Những người xấu cho đến nay vẫn còn cơ hội, lợi dụng kết luận này để kích động dân chúng gắn với tình hình căng thẳng ở Biển Đông với Trung Quốc.

 

Ngày 01/8/2016 và ngày 4/10/2018 tác giả đã gửi thư kèm bài viết chi tiết  tới các Bộ, ngành liên quan, tuy nhiên không một hồi âm và im lặng khó hiểu. Đến nay đã hơn 2 năm, kết luận rất sai về nguyên nhân cá chết vì các độc tố hóa học phenol và xianua vẫn được bảo vệ, duy trì, không được công bố thay đổi. Ngày 6/11/2018 tôi đã có thư gửi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và lãnh đạo các Bộ, ngành liên quan “Sẽ là có tội nếu Bộ KH&CN vẫn cố tình bắt nhân dân cả nước, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, gần 200 đồng chí ủy viên BCH Trung ương Đảng, tất cả đại biểu Quốc hội mãi phải nghe sai, hiểu sai và nói sai về nguyên nhân cá chết

Đầy đủ chi tiết xin xem bài “CẦN TRẢ LẠI CHÂN LÝ CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT”.

 

THẤT BẠI 2: QUI HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐIỆN LỰC QUỐC GIA GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 CÓ XÉT ĐẾN NĂM 2030 LÀ RẤT CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC

Còn gọi là Qui hoạch Điện lực VII điều chỉnh, được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 428/QĐ-TTg, ngày 18/3/2016, với tổng kinh phí đầu tư 3.206.652 tỷ đồng (tương đương 148 tỷ USD). Theo Qui hoạch sản lượng nhiệt điện than vào năm 2030 chiếm tỷ trọng 53,2%, điện khí tự nhiên 16,8%, thủy điện 15,5%, điện sinh khối 2,1%, điện gió 2,1%, điện mặt trời 3,3%. Từ nay đến năm 2030 sẽ đầu tư khoảng 3.206.652 tỷ đồng (tương đương 148 tỷ USD). Căn cứ thực tế triển khai nhiệt điện than rất mạnh mẽ từ năm 2015 - 2018, có thể dự đoán vào năm 2030, tỷ trọng nhiệt điện than sẽ chiếm 60%. Theo Qui hoạch vào năm 2030 sẽ thiêu đốt 130 triệu tấn than; trong đó khoảng 85 triệu tấn là nhập khẩu. Qui hoạch này là căn cứ để xây dựng kế hoạch đầu tư cấp vốn hàng năm. Thực hiện Quy hoạch này chúng ta sẽ phải thắt lưng buộc bụng, bỏ ra 148 tỷ USD để “mua” những tác hại vô cùng to lớn sau đây:

  1. Hủy hoại sức khỏe nhân dân và môi trường sinh thái.
  2. Làm gia tăng phát thải khí nhà kính, đẩy mạnh biến đổi khí hậu.
  3. Gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước.
  4. Gây tụt hậu lớn cho ngành điện Việt Nam so với Thế giới.
  5. Kìm hãm sự phát triển của điện gió, điện mặt trời và điện sinh khối.
  6. Vi phạm nghiêm trọng Luật đấu thầu.
  7. Không nói thật với nhân dân khi điều chỉnh Qui hoạch Điện VII (năm 2011) thành Qui hoạch Điện VII điều chỉnh (năm 2016).

1. Hủy hoại sức khỏe nhân dân và môi trường sinh thái:

Than được khai thác từ vỏ Trái đất, tùy theo cấu tạo địa chất của từng vùng nên tỷ lệ có khác nhau, nhưng nói chung bình quân 1 triệu tấn than có chứa 100kg thủy ngân, 7.500 kg Arsen, 1.100 kg Beryllium, 710kg Cadmium, 8.400kg Crom, 8.900kg Nickel, 2.500kg Selenium v.v.. Than này được nghiền mịn như cám và phun vào buồng đốt nồi hơi. Bình quân khi đốt 1 triệu tấn than sẽ thải vào môi trường 1,9 – 2,1 triệu tấn khí hiệu ứng nhà kính (CO2, và CH4) làm gia tăng biến đổi khí hậu, 317.000 tấn tro bay (fly ash) + 159.000 tấn tro đáy (bottom ash), tổng cộng là 476.000 tấn tro than (coal ash).

Các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10 µm (PM10) có thể đi vào tận phế nang, gây viêm mũi, viêm phế quản, hen suyễn, viêm phổi. Hạt nhỏ hơn 2,5 µm (PM2,5) có chứa cả các kim loại nặng nói trên, đi vào tận màng phổi và đọng lại trong lá phổi gây viêm phổi, sơ hóa phổi, nếu nồng độ cao và kéo dài có thể dẫn đến ung thư phổi. Các khí NOx và SOx là những khí độc hại, có thể xâm nhập vào cơ thể người qua da và các cơ quan hô hấp hoặc cơ quan tiêu hóa. Ở trong khí quyển chúng phản ứng với hơi nước, tạo thành các axit trong các đám mây, gây mưa axit hủy hoại các hệ sinh thái, đa dạng sinh học, hủy hoại hoa mầu và các công trình kiến trúc, xây dựng.

Nước mưa, nước tưới chống bụi cho các bãi đổ tro và xỉ than sẽ thẩm thấu vào tất tật mọi thứ có nguồn gốc từ than, sẽ hòa tan rất nhiều các độc tố hóa học khác nhau trong xỉ than, gạch lát đường làm bằng tro, xỉ than vào nước chảy, thấm, rò rỉ và lan tỏa khắp nơi, đi vào cống rãnh, cuối cùng đổ ra sông, ngòi, hồ ao hủy diệt các hệ sinh thái. Tất tật các độc tố hóa học nói trên trong môi trường không khí, trong đất và nước sẽ đi vào cơ thể con người thông qua đường da, hít thở và ăn uống. Qua con đường ăn uống thông qua mạng lưới và chuỗi thức ăn (food chain and food web), các độc tố này được tích tụ và khuyếch đại sinh học lên hàng triệu và chục triệu lần (biological accumulation and magnification). Đây là một qui luật của tự nhiên.

Ngày 29/9/2015 tại Hà Nội, Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID) cùng với nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard đã tổ chức hội thảo quốc tế "Than - Nhiệt điện than: Những điều chưa biết". Chuyên gia Lauri Myllyvirta cho biết “Trong tổng số người Việt chết yểu do ô nhiễm không khí của năm 2011, có đến 4.300 người được xác định liên quan đến khí thải từ các dự án nhiệt điện than. Dự báo khí thải than ở Việt Nam sẽ tăng gấp ba lần vào 2030. Khi đó có khoảng 25.000 người chết mỗi năm”. 10 năm là giai đoạn rất ngắn của cuộc đời sẽ có 250.000 nghìn người chết sớm vì nhiệt điện than.

 

2. Làm gia tăng phát thải khí nhà kính, đẩy mạnh biến đổi khí hậu.

Bình quân đốt 1 triệu tấn than sẽ thải ra 2,03 triệu tấn CO2. Theo Qui hoạch, các nhà máy nhiệt điện than của Việt Nam vào năm 2020 sẽ thiêu đốt 63 triệu tấn than, phát thải 128 triệu tấn CO2; năm 2025 tiêu thụ 95 triệu tấn than, phát thải 193 triệu tấn CO2; năm 2030 tiêu thụ 129 triệu tấn than, phát thải 262 triệu tấn CO2 góp phần lớn nhất (trong cả nước) gia tăng biến đổi khí hậu. Đây là bản Qui hoạch phủ định tinh thần cơ bản, cốt lõi của thỏa thuận Paris 2015 là cắt giảm phát thải CO2.

 

3. Gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước

Đến nay đã rất rõ là hầu hết các nước trên Thế giới coi phát triển điện xanh, điện sạch (năng lượng  tái tạo) là nền tảng để tiến tới phồn vinh, thịnh vượng. Duy nhất Việt Nam lại chọn phát triển loại điện “BẨN” nhất là nền tảng tiến tới phồn vinh, thịnh vượng.

Theo Ngân hàng Thế giới, năm 2016 ô nhiễm môi trường đã làm Việt Nam thiệt hại khoảng 10 tỷ USD, gần bằng 5% GDP.

Các tổ chức quốc tế đưa ra ước tính rằng mỗi kWh nhiệt điện than làm tốn chi phí y tế đến 0,17 đô la Mỹ (Kinh tế Sài Gòn, thứ 6, ngày 17/2/2017). Theo Qui hoạch, sản lượng điện than vào các năm 2020, 2025 và 2030 lần lượt 131 tỷ kWh,   220 tỷ kWh, 304 tỷ kWh sẽ tạo ra tổng chi phí y tế lần lượt là 22,3 tỷ USD,   37,4 tỷ USD và 51,7 tỷ USD. Như vậy, một nguồn lực rất lớn của đất nước không được huy động cho phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác.

Tại cuộc tọa đàm “Tác động của nhiệt điện than đến môi trường biển và cuộc sống của người dân” do tổ chức phi chính phủ ChangeVN phối hợp với ĐSQ Canada tổ chức sáng 17/2/2017 tại Tp. HCM, Tổng lãnh sự Canada tại Tp. HCM Richard Bale đã nhận xét “Thành tựu tăng trưởng và công cuộc giảm đói nghèo trong hai thập kỷ qua ở Việt Nam đã bị ảnh hưởng phần nào bởi việc sử dụng quá nhiều nguồn năng lượng không tái tạo”.

Do nhiệt điện than được qui định là  trụ cột nên đã thu hút phần lớn nguồn lực đầu tư. Kết quả là không quan tâm đúng mức đầu tư cho lĩnh vực chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng. Trong giai đoạn 10 năm (2020 – 2030) chúng ta sẽ vô tư đập phá tổng cộng khoảng 70 nhà máy thủy điện Sơn La, hoặc 80 nhà máy điện than Vĩnh Tân 4!!!.

 

4. Gây tụt hậu lớn cho ngành điện Việt Nam so với Thế giới.

Việt Nam là nước duy nhất trên Thế giới đã chọn nhiệt điện than là trụ cột của ngành điện trong tương lai, sẽ chiếm đến gần 60% vào năm 2030 (trong khi bình quân toàn Thế giới là 24,4% và sẽ giảm tiếp xuống 11% vào năm 2050). Tổng điện gió và điện mặt trời của Việt Nam khoảng 5,4%. Hệ thống điện Việt Nam sẽ là tập trung cao độ, độc quyền cao độ, phụ thuộc vào gần 100 các nhà máy đốt nhiên liệu hóa thạch, với vài ba tập đoàn Nhà nước cung cấp điện (EVN, PVN, TKV), gần như độc quyền sản xuất điện và độc quyền 1 người mua buôn điện và 1 người bán lẻ điện là EVN. Đây là mô hình và cơ cấu điện của Thế giới vào những thập kỷ 60 – 70. Ngành điện lực Việt Nam trong tương lai sẽ là đồ đá so với ngành điện hoàng kim của Thế giới.

 

Xu hướng NGHỊCH suốt 17 năm (từ năm 2013 đến năm 2030) và còn lâu hơn nữa của nhiệt điện than Việt Nam so với toàn Thế giới: Sản lượng điện than của Việt Nam TĂNG bình quân năm 15,1%. Trái ngược bình quân Thế giới GIẢM (-1,5%/năm). Hầu hết các nước trên Thế giới đã chọn NLTT là trụ cột của nền kinh tế, là lựa chọn tốt nhất để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.

 

Các quốc gia hầu như không có điện than: Albania, Belarus, El Salvador, Ghana, Latvia. Các quốc gia đã chấm dứt hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn điện than: Belgium (2016), Scotland (2016), Austria (2025), Canada (2030), Finland (2030), France (2023), Netherlands (2030), New Zealand (2022), Portugal (2030), Sweden (2030), United Kingdom (2025). Các bang của Mỹ đã chấm dứt hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn nhiệt điện than: California (2014), Ontario (2014), Massachusetts (2017), New York state (2020), Oregon (2020), Connecticut (2021), Hawaii (2022), Washington state (2025), New Mexico (2030). Các thành phố đã hoặc cam kết chấm dứt hoàn toàn nhiệt điện than: Bắc Kinh (2017), Delhi city (2018), Berlin (2030).

 

Đến năm 2050: Toàn Châu Âu, điện NLTT chiếm đến 87%. Nước Đức tổng điện mặt trời và điện gió chiếm 74%, tổng điện NLTT chiếm 84%. Nước Anh điện NLTT lên 83%. Nước Mỹ, điện than và điện hạt nhân sẽ biến mất, mặc dù trữ lượng “vàng đen”, sản xuất và xuất khẩu “vàng đen” ở nước Mỹ là lớn nhất Thế giới. Điện NLTT sẽ chiếm 55%, 45% còn lại là điện khí ga. Nước Úc, điện gió và điện mặt trời đóng vai trò trụ cột, chủ lực; nhiệt điện than sẽ biến mất khỏi Úc, mặc dù Úc là vương quốc của nhiều mỏ than và xuất khẩu than (chỉ sau Mỹ, Nga và Trung Quốc). Trung Quốc: tổng điện gió và mặt trời sẽ chiếm 46% đưa tổng điện NLTT lên 62%. Ấn Độ sẽ có điện mặt trời và điện gió rẻ nhất Thế giới và tổng điện NLTT sẽ là 75%. Nhật Bản, điện mặt trời là 43%, điện NLTT sẽ chiếm 75%. Hàn Quốc, điện khí ga và NLTT sẽ chiếm 71% còn lại là điện hạt nhân và điện than.

 

Đầy đủ chi tiết xin mời đọc bài viết “QUY HOẠCH ĐIỆN LỰC VII điều chỉnh LÀ RẤT CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC” trong mục ĐIỆN VÀ NĂNG LƯỢNG. Tại mục này còn nhiều bài viết khác nữa tranh luận với những cây đa khoa học năng lượng, cho thấy họ hổng những kiến thức cơ bản, và rất lạc hậu với xu thế phát triển điện và năng lượng của Thế giới.

 

THẤT BẠI 3: CHÍNH SÁCH XĂNG E5 LÀ RẤT CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC

Chính sách này được phê duyệt tại Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg ngày 20/11/2007. Bộ Công thương hiện đang triển khai mạnh mẽ việc sản xuất và sử dụng xăng E5 trên phạm vi cả nước, tiến tới chỉ có bán xăng E5, không bán xăng RON 92 và RON 95.  Định nghĩa xăng E5: Là xăng khoáng (RON92 hay RON95) nhưng thay thế 5% bằng cồn ethanol tinh khiết. Cụ thể: Trộn 95 lít xăng với 5 lít ethanol tinh khiết ta được 100 lít xăng E5. Nếu tỷ lệ phối trộn là 10% hay 20% sẽ gọi là xăng E10 hoặc E20. Xăng là nhiên liệu hóa thạch, khi cháy tỏa ra nhiệt lượng là 46,7 MJ/kg. Cồn ethanol cũng là nhiên liệu, khi cháy tỏa ra 26,8MJ/kg (bằng 57% so với xăng). Vì ethanol được sản xuất chủ yếu từ lên men tinh bột sắn nên còn được gọi là ethanol sinh học (bio-ethanol), hay nhiên liệu sinh học, để phân biệt với ethanol sản xuất bằng phương pháp tổng hợp hóa học (rất tốn kém). Tuy nhiên, không phải bất cứ loại nhiên liệu sinh học nào cũng là tốt, thân thiện môi trường, đáp ứng được các tiêu chí của Phát triển bền vững (PTBV), trong đó có ethanol sản xuất tại Việt Nam. Chính sách xăng E5 sẽ:

  1. Hủy hoại rừng và đa dạng sinh học.
  2. Làm suy thoái đất, gia tăng lũ quét bùn đất đỏ xuống vùng xuôi.
  3. Không hiệu quả, thua lỗ nặng về kinh tế, đẩy cho nhiều triệu người tiêu dùng gánh chịu.
  4. Gây ô nhiễm môi trường và gia tăng phát thải khí CO2, nhiều hơn so với xăng truyền thống (xăng RON 92, hay RON 95).
  5. Bộ Công thương là tác giả của Luật cạnh tranh nhưng đã vi phạm Luật, xem nhẹ nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư và các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Phát triển bền vững đất nước.
  6. Tuyên truyền sai về bản chất khoa học của xăng E5, làm cho nhân dân và các lãnh đạo của đất nước phải nghe sai, hiểu sai và nói sai về xăng E5.

 

1. Hủy hoại rừng và đa dạng sinh học:

Cây sắn có đặc điểm là “tham ăn dưỡng chất”, nhanh chóng làm cạn kiệt đất. Đã thành truyền thống người dân trồng sắn, sau vài ba vụ, đất bị bạc mầu, năng suất thấp, mặc dù đã phải bổ sung phân hóa học và thuốc trừ sâu, sẽ bỏ đất hoang, tiếp tục vào sâu trong rừng, chỉ cần 1 mồi lửa nhỏ đốt rừng khai phá mảnh đất mới để trồng sắn. Đã nhiều năm qua diện tích trồng sắn “ổn định” ở mức 550.000 ha, đáp ứng cho những nhu cầu lương thực, thực phẩm cho người và gia súc, cho xuất khẩu sang Trung Quốc. Thế mà rừng xanh đã bị phá hoại ở rất nhiều nơi. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, trong vòng 5 năm (từ 2010-2014), tổng diện tích rừng Tây Nguyên đã giảm tới hơn 300.000 ha, độ che phủ của rừng giảm 6,1%. Có một số nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là do chuyển đổi rừng và “phá rừng hợp pháp” để trồng cao su và các cây công nghiệp.

Để phục vụ cho chính sách xăng E5, vào năm 2025 sẽ cần khoảng 2 triệu m3 nhiên liệu ethanol, sẽ phát sinh thêm nhu cầu gần 730.000  ha đất trồng sắn “hợp pháp”. Điều này sẽ là một thảm họa lớn đối với rừng xanh, sẽ tàn phá mạnh mẽ thảm thực vật và đa dạng sinh học.

 

2. Làm suy thoái đất, gia tăng lũ quét bùn đất đỏ xuống vùng xuôi

Ngày xưa là đất rừng, thảm thực vật phủ kín mặt đồi núi, nên sau những cơn mưa, nước đổ về xuôi rất chậm và toàn là nước trong. Vì trung bình cứ 1 m2 đất rừng sau mưa có thể lưu giữ được đến 0,1m3 nước ngấm sâu vào đất (tương đương với lượng mưa 100mm sau khoảng 2 giờ). Ngày nay là những đồi trồng sắn mênh mông, đất luôn được cầy, cuốc, đào xới nên sau mỗi cơn mưa, toàn là nước đất, nước bùn đỏ ngầu ào ạt đổ về xuôi tạo nên những cơn lũ quét chớp nhoáng cuốn đi tất cả.

 

Lãnh đạo của đất nước sẽ phải thường xuyên kêu gọi cả nước chung tay góp sức giúp bà con các vùng bị lũ lụt. Các cơ quan, đơn vị từ Trung ương đến địa phương tổ chức những buổi đóng tiền quyên góp. Ngân sách Nhà nước sẽ phải bỏ ra nhiều tỷ đồng hơn nữa để xử lý những hậu quả của lũ lụt.

 

3. Không hiệu quả, thua lỗ nặng về kinh tế, đẩy cho nhiều triệu người tiêu dùng gánh chịu

Những năm gần đây, giá thành 1 lít ethanol luôn cao hơn gấp đôi giá 1 lít xăng nhập khẩu. Cụ thể, trong các  năm 2014 – 2016, giá thành 1 lít ethanol khoảng 18.000 – 20.000 đồng/L. Trong khi giá CIF xăng RON92 nhập khẩu từ 7.000 – 8.200 đồng/L. Như vậy giá thành 1 lít ethanol đắt khoảng 250% so với giá nhập khẩu 1L xăng RON92. Khoản thua lỗ lớn về kinh tế này phải được tính vào giá bán xăng E5, đẩy cho nhiều triệu người tiêu dùng trên cả nước phải gánh chịu.

 

Trên báo mạng rất nhiều thông tin về 3 nhà máy sản xuất cồn ethanol của tập đoàn PVN, như dưới đây:

“Ba dự án nhiên liệu sinh học của PVN "đốt" 5.400 tỷ đồng, nhà máy đắp chiếu… hầu hết đều chỉ định thầu cho Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí (PVC)…máy móc thiết bị hầu hết là của Trung Quốc… sản phẩm không bán được, nợ ngập đầu, thua lỗ nặng… Thanh tra Chính phủ vừa công bố quyết định thanh tra toàn diện 3 dự án nhiên liệu sinh học tại Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)… Chuyển hồ sơ sang Bộ Công an để điều tra, xử lý theo quy định đối với các sai phạm trong quá trình đầu tư xây dựng 2 dự án là Phú Thọ và Dung Quất có dấu hiệu cố ý làm trái dẫn đến hậu quả nghiêm trọng…”

Vì dự án luôn là thua lỗ nên không bao giờ nhà máy của PVN lại thu mua sắn của bà con nông dân với giá cao giúp  cải thiện đời sống cho dân (luôn là độc quyền 1 người mua). Sắn lại không bảo quản được lâu, do vậy bắt buộc người nông dân phải bán. Vì sản xuất không có hiệu quả nên cây sắn chưa bao giờ là cây xóa đói, giảm nghèo cho người nông dân.

 

4. Gây ô nhiễm môi trường và gia tăng phát thải khí CO2, gia tăng biến đổi khí hậu nhiều hơn so với xăng truyền thống (RON 92, hay RON 95).

Vì xăng E5 gồm 95% là xăng RON92 + 5% cồn ethanol tinh khiết, nên mọi tính chất lý học và hóa học đều thuộc về xăng RON92. Vì vậy khí thải của xăng E5 sẽ là khí thải của xăng RON92 + khí thải của hợp phần ethanol. Vì trong ethanol còn có các aldehyd khác nên khi sử dụng sẽ thải ra lượng nhỏ formaldehyd và acetaldehyd.

Brazil là nước sử dụng rất nhiều xăng trộn ethanol tỷ lệ cao nhất Thế giới, E5, E10, E20, E85... Kết quả phân tích môi trường không khí tại thành phố Sao Paulo cho thấy nồng độ formaldehyd là 160% và acetaldehyd 260% cao hơn thành phố Osaka của Nhật Bản, nơi không sử dụng xăng E5.

 

Tại công trình nghiên cứu “Ethanol fuel use in Brazil: air quality impacts” của tác giả Larry G. Anderson (Department of Chemistry, CB 194, University of Colorado Denver, POB 173364, Denver, Colorado, USA) công bố ngày 04/9/2009  cho thấy “Nồng độ của acetaldehyde và ethanol trong không khí ở Brazil cao hơn nhiều so với các nơi khác trên Thế giới. Sử dụng nhiên liệu ethanol đã làm gia tăng nồng độ acetaldehyd, ethanol và NOx góp phần quan trọng đối với ô nhiễm không khí, các phản ứng quang hóa tạo ra ozone (O3). Chất lượng không khí chứa ozone là rất có vấn đề ở Brazil, ở các thành phố lớn như Sao Paulo và Rio de Janeiro”.

 

Lượng phát thải khí CO2 khi đốt 1 lít ethanol của Việt Nam sản xuất cao hơn 35% so với 1 lít xăng RON92 (xem ở báo cáo chi tiết).

Vì không phải nhiên liệu sinh học nào cũng là tốt, là đáp ứng các  tiêu chí của Phát triển bền vững, nên Ủy ban Châu Âu đã ban hành Chỉ thị Năng lượng tái tạo (Renewable Energy Directive, RED). Trong đó đã đưa ra các tiêu chí PTBV đối với nhiên liệu sinh học, được tập trung vào hai nhóm:

1) Phải giảm được 50% phát thải cacbon (CO2) so với xăng thường (RON 92, RON 95). Đối với những nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học xây dựng từ năm 2018 trở đi sẽ chịu tỷ lệ cao hơn, là 60%.

2) Không được chuyển đổi đất rừng, đất có đa dạng sinh học cao (highly biodiverse land), đất rừng trồng (wooded land), đồng cỏ đa dạng sinh học (biodiverse grassland), đất ngập nước (wetland), đầm lầy (mire) thành đất trồng cây nguyên liệu để sản xuất nhiên liệu sinh học.

Một nhiên liệu sinh học nếu không đáp ứng được 2 nhóm tiêu chí trên sẽ không được phân phối, sử dụng, nhập khẩu vào EU.

Có thể khẳng định ngay ethanol sản xuất tại Việt Nam hoàn toàn không đáp ứng được những tiêu chí của PTBV.

 

Tổ chức Global Bioenergy Partnership (GBEP), được 10 quốc gia và 7 tổ chức quốc tế thành lập ngày 11/5/2006, đã tiến hành biên tập tài liệu The Global Bioenergy Partnership Sustainability Indicators for Bioenergy để hướng dẫn các Chính phủ, các doanh nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học theo hướng PTBV, ngay tại phần kết của trang mở đầu có một lời khuyên, nguyên văn như sau: “Nếu một nhiên liệu sinh học không được sản xuất theo cách bền vững, thì chính nó sẽ gia tăng sức ép lên đa dạng sinh học, các nguồn nước vốn đã khan hiếm và đe dọa an ninh lương thực. Nếu sử dụng đất đai không có kế hoạch tốt, chế tài tốt, sẽ gia tăng hủy hoại rừng, tổn thất đất hữu cơ (đất mùn), suy thoái đất đai và dẫn đến một tác động tiêu cực bao trùm đối với biến đổi khí hậu”.

 

Việc Bộ Thông tin và Truyền thông ra quyết định số 1622/QĐ-BTTTT, ngày 29/9/2017, tuyên truyền về xăng “sinh học” E5 cho đến năm 2020, làm cho nhân dân cả nước, cả Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội sẽ còn phải nghe sai, hiểu sai, nói sai về bản chất khoa học của xăng “sinh học” E5. Tất cả các nước trên Thế giới chỉ gọi thuần túy là xăng E5, duy  nhất chỉ có các nhà khoa học Việt Nam mới gọi xăng “sinh học” E5.

Mọi chi tiết xin mời đọc bài “CHÍNH SÁCH XĂNG E5 LÀ CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC” thuộc chuyên đề “ĐIỆN VÀ NĂNG LƯỢNG” tại website nguyenducthang.vn

 

 

THẤT BẠI 4: HAI NHÀ  MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI LỚN NHẤT CỦA HÀ NỘI SẼ LÀM CÁC CON SÔNG CHẾT HẲN VÀ GIA TĂNG NGẬP LỤT Ở THỦ ĐÔ

Bộ Xây dựng và UBND thành phố Hà Nội với mục đích làm sống lại 5 con sông (Kim Ngưu, Sét, Lừ, Tô Lịch và sông Nhuệ), đã và đang đầu tư xây dựng 2 nhà máy XLNT với tổng vốn hơn 1,1 tỷ USD. Nhưng do sai về phương pháp và cách tiếp cận nên sẽ làm cho chúng chết hẳn và gia tăng mạnh mẽ úng ngập ở thủ đô, phủ định những kết quả của 20 năm thực hiện dự án thoát nước (giai đoạn 1 và 2, vốn ODA Nhật Bản).

 

1. Dự án nhà máy XLNT Yên Sở, công suất là 200.000m3 nước thải/ngày, vốn thực hiện gần 300 triệu USD, cuối năm 2012 đã chạy thử, tháng 8/2013 công ty TNHH Gamuda Land Việt Nam (công ty mẹ ở Malaysia) đã bàn giao cho phía Việt Nam. Đến nay đã hơn 5 năm vận hành mà không thể cứu được, làm sống lại sông Kim Ngưu và  sông Sét cho dù lấy chỉ có 1 ngày. Điều này mọi người dân Hà Nội đều có thể tự kiểm chứng. Cho đến hết đời của nhà máy, giả sử đến năm 2050, với bao nhiêu chi phí vận hành hàng ngày, hai con sông vẫn sẽ mãi mãi là sông chết, đen thối. Không những thế, suốt đời nhà máy phải vận hành với công suất rất thấp so với thiết kế. Vì sao? Vì nếu vận hành đúng với công suất thiết kế thì hai con sông sẽ nhanh chóng bị cạn kiệt nước và trơ bùn đáy.

 

2. Dự án XLNT Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì), cho nửa Tây của Hà Nội (lưu vực sông Lừ, sông Tô Lịch và sông Nhuệ), lễ khởi công ngày 7/10/2016, dự kiến hoàn thành vào năm 2019. Tổng vốn đầu tư 16.293 tỷ đồng (khoảng 800 triệu USD vốn ODA Nhật Bản), gồm hai hạng mục sau:

  • Nhà máy XLNT công suất 270.000 m3/ngày đêm,
  • Hệ thống thu gom, cống bao, hệ thống cống đấu nối (dọc hai bờ sông Tô Lịch, sông Lừ và một phần tả ngạn sông Nhuệ) với tổng chiều dài cống các loại gần 53km, đường kính từ  0,4m – 2,4m, thu gom nước thải đưa về nhà máy xử lý.

Dự án này khi đi vào hoạt động sẽ làm các con sông chết hẳn, rất nhanh, phơi lòng, trơ đáy. Chỉ cần trời nắng, không mưa cho 1 tuần, lòng sông sẽ khô cứng và các cháu thiếu niên có thể xuống đá bóng được. Còn khi trời mưa to, sẽ gia tăng ngập úng mạnh mẽ. Vì sao lại như vậy? Vì đơn giản như phân tích dưới đây:

 

Trường hợp A: Khi trời nắng, không mưa: Nước thải sinh hoạt từ tất cả các hộ gia đình chảy vào các cống chung nằm dọc trong các ngõ, ngách (cống cấp 3); rồi đổ vào các cống lớn (cống cấp 2) nằm dọc theo các đường phố lớn, thoát chảy đổ vào các con sông (cấp 1). Hai bên bờ sông là hàng ngàn các miệng cống thoát nước đổ vào. Tuy nhiên, dự án XLNT Yên Xá có hạng mục xây dựng 53km cống ngầm chạy dọc hai bên bờ các con sông để thu gom tất cả nước thải vào cống dẫn về nhà máy XLNT đặt tại Yên Xá (phía Nam Hà Nội), chặn không cho nước thải đổ vào sông, làm “bẩn” các con sông. Đây là giải pháp mà Bộ Xây dựng thực hiện để bảo vệ, cứu các con sông.

Đáng tiếc là khi trời nắng, không mưa, nước thải lại là nguồn duy nhất để “nuôi” các con sông. Khi không còn nguồn nước thải nuôi sông đương nhiên là sông phải chết, nhanh chóng trơ lòng, phơi đáy. Chỉ cần trời không mưa trong 1 tuần là bùn đáy của lòng sông sẽ khô và cứng. Lúc này các cháu thiếu niên có thể xuống lòng sông chơi bóng đá.

 

Trường hợp B: Khi trời mưa to: Khi chưa có Dự án: Nước mưa từ mọi ngõ, ngách của đường phố sẽ chảy vào các miệng hố ga, xuống vào các cống cấp 3 và 2, gộp chung với tất cả nước thải sinh hoạt chảy về sông và ào ạt đổ vào hàng nghìn miệng cống xả dọc sông. Nhiều nơi ở đâu đó, các cống cấp 3 và cấp 2 bị tắc do rác thải sinh hoạt, nước không thoát kịp đã ứ đọng lại, tạo nên úng ngập cục bộ. Khi trời mưa rất to, chính bản thân các con sông cũng không tiêu thoát kịp nước về xuôi nên đã bị ngập đầy nước. Sông cũng bị ngập lụt, nước dâng cao tràn bờ, có nghĩa là tất cả các khu dân cư vùng đó sẽ bị ngập nặng, ngập sâu, ngập rộng. Đó là lý do chủ yếu để Hà Nội đã có 20 năm ưu tiên triển khai thực hiện dự án thoát nước chống ngập lụt (gần 600 triệu USD, vốn ODA Nhật Bản, Quyết định số 112/1996/TTg ngày 15/2/1996, kết thúc vào 12/2016).

Khi Dự án hoàn tất, đưa vào sử dụng: Hạng mục xây dựng 53km cống ngầm với đường kính từ 0,4m – 2,4m, chạy dọc hai bên bờ các con sông sẽ thu gom tất cả nước mưa to lớn cùng với nước thải sinh hoạt vào cống dẫn về nhà máy XLNT Yên Xá. Chức năng thoát nước bẩm sinh, tạo hóa ban tặng cho sông đã bị Bộ Xây dựng và UBND thành phố Hà Nội cắt bỏ. Sông Tô Lịch và sông Nhuệ, với độ rộng lòng sông từ 10m – 30m trở nên thất nghiệp, ngắm nhìn nước lũ đổ vào các cống ngầm bé nhỏ mà chép miệng đau buồn. Chúng cứ hỏi sao lại thế? Sao lại thế? Chúng tôi có tội gì, sao lại không sử dụng chúng tôi để thoát lũ?. Mưa lớn, nước không thể tiêu thoát được ở trong các cống ngầm bé nhỏ mới xây, sẽ RẤT NHANH CHÓNG ứ đọng và tạo nên NGẬP ÚNG DIỆN RỘNG KHẮP NƠI.

 

Bài viết này của tôi trong đó có bao gồm đề xuất giải pháp để vừa cứu sống được các con sông, vừa không làm gia tăng ngập úng cho Hà Nội đã được gửi đến các cơ quan liên quan vào ngày 20/2/2017. Tuy nhiên đến nay, đã 19 tháng, không một hồi âm. So với ngày khởi công 7/10/2016, dự án đã hơn 2 năm thực hiện. Theo kế hoạch dự án sẽ hoàn thành năm 2019.

 

Ngày 07/10/2018 tôi đã đi tìm hiểu nơi xây dựng nhà máy XLNT Yên Xá xem động tĩnh ra sao. Chính xác đang là một vùng đất trống mênh mông bỏ hoang vắng, chưa đào 1m cống nào, không một bóng người như hai ảnh dưới đây:

 

Khi vua Lý Thái Tổ khai sinh ra kinh thành Thăng Long, con sông Tô trong ngần còn ở ngoại ô của kinh thành. Trải qua hơn 1000 năm phát triển, ngày nay sông Tô là con sông duy nhất uốn lượn quanh co, mượt mà, ở giữa tim của Thủ đô Hà Nội. Hà Nội có Hồ Gươm đã đi vào lịch sử, là biểu tượng linh thiêng, thì con sông Tô cần phải được đầu tư để trở thành con sông đẹp nhất của Hà Nội cho muôn đời con cháu mai sau. Con sông Tô phải có nước trong ngần, cá bơi lội tung tăng, hai bên bờ phải là những thảm thực vật, những hàng cây đầy hoa lá hương thơm ngào ngạt. Trên sông là những con thuyền du lịch trở khách thăm quan, chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sắc màu. Suốt dọc hai bên sông luôn là những nơi sạch nhất, đẹp nhất, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của mọi người dân Hà Nội và khách du lịch trong và ngoài nước.

Đầy đủ chi tiết xin mời đọc bài “HAI NHÀ  MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI LỚN NHẤT CỦA HÀ NỘI” tại chuyên mục HÀ NỘI VỚI NƯỚC THẢI, tại website nguyenducthang.vn.

 

 

THẤT BẠI 5: BÀI VIẾT “DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÀ CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC”

 

Bộ Xây dựng mang “tư duy” nhà máy XLNT Yên Xá ở Hà Nội vào áp dụng tương tự cho Tp. HCM. Dự án khởi công ngày 24/2/2017, có tổng vốn đầu tư 524 triệu USD, trong đó vốn vay của Ngân hàng Thế giới 450 triệu USD. Dự án sẽ xây dựng 2 tuyến cống bao dọc hai bên bờ kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, để thu gom toàn bộ nước thải của 5 quận là Tân Bình, Quận 3, Phú Nhuận, Bình Thạnh và Quận 1 dẫn về nhà máy xử lý nước thải tập trung, công suất thiết kế 480.000m3/ngày, có diện tích trên 38 ha tại phường Thạnh Mỹ Lợi thuộc Quận 2. Đường kính của các cống đấu nối, thu gom từ 1,0m – 3,0m.

HÌNH VẼ DỰ ÁN VSMT GIAI ĐOẠN 2 TP. HỒ CHÍ MINH

 

Kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè khác 5 con sông của Hà Nội là khi thu gom chặn không cho nước thải đổ vào sông, khi triều dâng sẽ có nước sông Sài Gòn tràn vào, nên không bị trơ lòng, phơi đáy như 5 con sông ở Hà Nội. Tuy nhiên khi mưa lớn, tương tự như dự án nhà máy XLNT Yên Xá Hà Nội, nước không thể tiêu thoát trong các cống ngầm bé nhỏ, sẽ RẤT NHANH CHÓNG ứ đọng và tạo nên NGẬP ÚNG DIỆN RỘNG KHẮP NƠI. Dự án giai đoạn 2 sẽ phủ định hoàn toàn kết quả đã đạt được của giai đoạn 1 là nạo vét, thông tắc cống, khơi thông dòng chảy.

 

Tất cả mọi người dân, kể cả các cháu bé học từ lớp 4 trở lên đều tin rằng thoát nước trong kênh mương rộng lớn bao giờ cũng nhanh hơn, nhiều hơn, tốt hơn thoát nước trong cống nhỏ có đường kính 3m. Thoát nước trong cống có đường kính 3m bao giờ cũng sẽ tốt hơn trong cống có đường kính 1m.

 

Quan điểm TRỊ THIÊN, cắt bỏ chức năng thoát lũ tạo hóa đã ban tặng cho các con sông, kênh mương là sai lầm cơ bản thứ 1. Chọn cách tiếp cận XLNT tập trung thay vì phân tán là sai lầm cơ bản thứ 2 đã tạo nên thất bại.

 

Đầy đủ chi tiết xin xem bài “DỰ ÁN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG GIAI ĐOẠN 2 Tp. HCM LÀ CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục THỦY LỢI VÀ ÚNG NGẬP TP.HCM.

 

 

THẤT BẠI 6: BÀI VIẾT “CẦN TRẢ LẠI CHÂN LÝ KHOA HỌC CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN NGẬP ÚNG TP. HỒ CHÍ MINH”

Bài viết phân tích, chứng minh “Quy hoạch thủy lợi chống ngập úng khu vực Tp. HCM” được phê duyệt tại Quyết định số 1547/QĐ-TTg ngày 28/10/2008, kết hợp với chủ trương xây dựng tuyến đê biển Vũng Tàu – Gò Công (Tiền Giang) đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý, sẽ tiêu tốn khoảng 230.000 tỷ đồng của đất nước, là những công trình thủy lợi TRỊ THIÊN không thân thiện môi trường sinh thái, sẽ HỦY HOẠI ĐẤT NƯỚC, vì úng ngập vẫn hoàn úng ngập, vì làm cạn kiệt nguồn lực quí hiếm của đất nước, hết tiền đầu tư cho những giải pháp có căn cứ khoa học.

 

Tp. Hồ Chí Minh không có ngập úng toàn diện, toàn thành phố, chỉ có ngập úng cục bộ, khi vài điểm, khi chục điểm, luân phiên thay đổi theo lưu vực bị mưa. Tp. HCM được Trời ưu ái, may mắn hơn rất nhiều các tỉnh miền Trung và miền Bắc, nên CHƯA BAO GIỜ trải nghiệm LŨ, LỤTngập mái nhà, gây thảm họa chết người và thiệt hại tài sản. Chỉ 30 năm gần đây thành phố mới bị NGẬP ÚNG CỤC BỘ sau mưa, nhiều nơi chỉ cần mưa vừa phải đã gây ngập úng, gây phiền toái cho dân.

 

Thế mà các cây đa khoa học thủy lợi đưa ra 3 hạng mục công trình chính sau nhằm chống ngập úng cục bộ sau mưa cho Tp. HCM:

a) Đang triển khai xây dựng tuyến đê bao dài 172km (độ cao đỉnh đê từ 2 – 3m, chiều rộng mặt đê 7,5m) suốt dọc bờ hữu sông Sài Gòn (từ Bến Sức, huyện Củ Chi), đến dọc sông Nhà Bè, dọc sông Soài Rạp, đi tiếp dọc bờ tả sông Vàm Cỏ đến Vàm Cỏ Đông; khép kín khu vực cần được bảo vệ (khoảng 3/4 diện tích Tp. HCM) và 4 huyện của tỉnh Long An: Cần Giuộc, Cần Đước, Bến Lức và Đức Hòa, ngăn không cho nước vào.

b) Đang triển khai xây dựng 12 cống lớn (có cánh đóng/mở) và trạm bơm công suất lớn tại các cửa kênh, rạch lớn, để nối khép kín các tuyến đê bao dài 172km. Các cống có độ rộng từ 20m đến 120m, với rất nhiều cánh đóng/mở to và nặng.

c) Sẽ xây dựng tuyến đê ngăn biển Vũng Tàu – Gò Công (tỉnh Tiền Giang) gồm

đê chính dài 28km + đê phụ 13km + Cầu giao thông nối tiếp đê chính với Vũng Tầu. Tại đê chính sẽ có 1 âu tầu cho tàu bè qua lại và 1 cống siêu dài, siêu lớn với rất nhiều các cánh cống đóng mở. 3 hạng mục công trình này được minh họa tại bản đồ dưới đây:

CHƯA CÓ NƠI NÀO TRÊN THẾ GIỚI XỬ LÝ ÚNG NGẬP CỤC BỘ TẠI VÀI ĐIỂM NÀO ĐÓ SAU MƯA BẰNG ĐÊ BAO VÀ ĐÊ BIỂN KHÉP KÍN NHƯ Tp. HCM

 

Như vậy, Bộ NN&PTNT đã đổ lỗi cho 1) MƯA 2) LŨ THƯỢNG NGUỒN 3) TRIỀU CƯỜNG và 4) MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG. Tất cả đều là những yếu tố khách quan, do thiên nhiên, do ông Trời gây ra. Điều này là hoàn toàn sai vì:

 

I. MƯA, LŨ THƯỢNG NGUỒN, TRIỀU CƯỜNG:

Bà con tiểu thương buôn bán trong chợ Bến Thành sẽ nói “Thưa, không phải, vì NGÀY XƯA VẪN THẾ, GIỜ VẪN VẬY, MUÔN THUỞ RỒI, vậy tại sao ngày xưa Sài Gòn không bị úng ngập cục bộ như ngày nay?”

Ngoài ra, ngày nay Tp. HCM đã có 2 hồ chứa nước cỡ lớn là Dầu Tiếng (vận hành năm 1987) và Trị An (năm 1990) “hấp thu” được gần 3,5 tỷ m3 nước, cắt giảm nước đổ về Sài Gòn. Do vậy  ngày nay “bắt buộc” Tp. HCM phải “khô” hơn Sài Gòn ngày xưa.

 

Ngày nay, nước từ 2 hồ trên chảy về Tp. HCM không thể gọi là LŨ được, mà là dòng nước ngọt quí hàng ngày giúp sản xuất điện (thủy điện Trị An), dòng nước này rất cần cho các hoạt động công, nông nghiệp, thủy sản và đặc biệt cho các nhà máy xử lý nước cấp sinh hoạt cho nhiều triệu người dân, giúp cho tầu bè đi lại khắp nơi, cuối cùng là pha loãng và đẩy nước thải sinh hoạt của thành phố ra biển. Thật vô lý khi gọi dòng nước ngọt quí này là LŨ. Nhờ dòng nước dinh dưỡng quí này nên khu rừng ngập mặn Cần Giờ mới xanh tốt, tạo nên “ĐÊ” biển tự nhiên bảo vệ bờ biển, tốt hơn bất cứ một đê biển nhân tạo nào bằng bê tông cốt thép. Hơn thế nữa, rừng ngập mặn Cần Giờ còn là một nhà máy XLNT tự nhiên rất lớn, rất quí cho Tp. HCM.

 

Thêm một bằng chứng thực tế từ những số liệu tại Niên giám thống kê Tp. HCM từ năm 2005 - 2015 cho bình quân Mực nước cao nhất quan trắc tại trạm thủy văn Phú An sông Sài Gòn là vào mùa khô là 142cm, vào mùa mưa là 135cm. Từ thực tế tự nhiên này cho ta rút ra một qui luật của tự nhiên mà các nhà khoa học thủy lợi Việt Nam không hề hay biết. Đó là bình quân mực nước cao nhất tại sông Sài Gòn vào mua mưa luôn thấp hơn vào mùa khô (cụ thể 8cm). Ngàn năm trước đã như vậy và ngàn năm sau này vẫn thế. Điều đó có nghĩa là vào mùa mưa, nước sông Sài Gòn còn có thể hấp thu, chứa được rất nhiều nước hơn nữa để dâng cao bằng mùa khô. TẠO HÓA ĐÃ BAN TẶNG CHO SÀI GÒN NGÀY XƯA VÀ NGÀY NAY LÀ Tp. HCM MỘT ƯU ĐÃI QUÍ BÁU ĐÓ. Chi tiết và lý giải qui luật tự nhiên này xin xem tại website nguyenducthang.vn chuyên mục THỦY LỢI VÀ NGẬP ÚNG TP.HCM.

 

II. VỀ MỰC NƯỚC BIỂN DÂNG: Do con người chặt phá rừng nặng nề và thiêu đốt quá nhiều các nhiên liệu hóa thạch (than, xăng, dầu, khí) nên phát thải nhiều khí hiệu ứng nhà kính (CO2, CH4) làm Trái đất đang nóng dần lên, làm cho các khối băng tan chảy, hệ quả là mực nước biển dâng lên.

Cho đến nay (năm 2018) bình quân mực nước biển toàn Thế giới mới chỉ dâng có 2 – 3cm (hơn móng tay). Còn tại vùng biển Vũng Tầu – Tp. HCM, theo nhà khoa học Hồ Long Phi (năm 2010) tính toán trên cơ sở bình quân số liệu quan trắc tại trạm thủy văn Vũng Tầu thì mực nước biển chưa dâng, hay độ dâng mực nước biển là bằng 0cm. Vì vậy việc coi mực nước biển dâng (0 – 3cm) là nguyên nhân gây úng ngập cục bộ trong những năm đã qua là rất kỳ lạ.

Bộ TN&MT dự báo cực đoan nhất (nếu như Thế giới không tích cực thực thi thỏa thuận Paris 2015) về mực nước biển dâng cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long vào cuối năm 2100 sẽ là bình quân 0,5 – 1cm/năm. Trong khi theo website của UBND Tp. HCM cung cấp những số liệu về địa hình, độ cao bình quân toàn thành phố từ 2,0 – 3,5m trên mực nước biển.

 

III. NGẬP ÚNG CỤC BỘ TẠI TP. HCM, 100% DO CON NGƯỜI GÂY RA

1) Hút nước ngầm là nguyên nhân cơ bản làm Tp. HCM sụt lún, gây úng ngập:

Đi kèm với sự phát triển về kinh tế luôn là nhu cầu về nước hàng ngày để phục vụ cho trồng trọt, chăn nuôi, sản xuất công nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt của người dân. Trên toàn Tp. HCM đã có khoảng 270.000 giếng khoan “tự phát”, đủ mọi qui mô, của các hộ gia đình, tổ chức, đơn vị sản xuất kinh doanh, nuôi trồng nông nghiệp.

Việc “rút ruột” lòng đất không kiểm soát này (1- 2 triệu m3/ngày) đã làm cho mức nước ngầm hạ thấp bình quân 2 – 3m/năm. 10 năm qua, mực nước ngầm đã giảm đi khoảng 25m.

 

2) Sự bùng nổ của đô thị hóa, lan tỏa khắp nơi là nguyên nhân cơ bản của sụt lún, gây úng ngập:

Sự phát triển thăng hoa các tòa nhà cao tầng, chung cư cao cấp, bê tông xi măng sắt thép, gương kính mọc lên như nấm. Những khối nhà nặng cả chục ngàn tấn, quanh năm ngày tháng, cứ thế đè lên bùn, đất, cát, đồng thời nước bị hút lên, nên Tp. HCM “bắt buộc” phải tự sụt lún. Thêm vào đó rất nhiều ao, hồ chứa nước, đầm lầy, sông ngòi, kênh rạch tồn tại ngàn năm mà tạo hóa ban tặng một chức năng thiên bẩm là để chứa nước, chống ngập úng, đã nhanh chóng bị san lấp, biến mất.

 

3) KHÔNG QUẢN LÝ XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THEO BẢN ĐỒ ĐỘ CAO QUI CHUẨN là nguyên nhân cơ bản gây ngập úng cục bộ Tp. HCM, Hà Nội và mọi đô thị ở Việt Nam:

Đây là công tác cơ bản, yêu cầu cơ bản của việc quản lý thoát nước, chống ngập úng cục bộ cho toàn thành phố. Việc xây dựng một bản đồ độ cao qui chuẩn không phải là vất vả, khó khăn và tốn kém, nhưng đã bị “lãng quên” quá nhiều năm. Chủ đầu tư các công trình, các tòa nhà được tự do, tùy thích xây độ cao nền nhà và độ cao đáy cống thoát nước của mình. Kết quả là toàn Tp. HCM rất nhiều nơi, nhiều chỗ khớp nối các cống thoát nước có độ cao đáy khác nhau, khấp khểnh, so le nhau; nước thải sinh hoạt đã bị ứ đọng, chỉ cần bồi thêm những cơn mưa vừa phải sẽ gây úng ngập là lẽ đương nhiên.

 

4) Hệ thống cống thoát nước cũ nát, nhỏ bé, đứt gẫy là nguyên nhân cơ bản gây úng ngập cục bộ cho mọi đô thị ở Việt Nam:

Phần lớn chúng ta không quan tâm đến xây cống. Nhiều nơi chỉ đơn giản xẻ rãnh cho nước chảy về “xuôi”. Qui mô, kích cỡ, chất lượng vật liệu xây cống chẳng ai để ý. Không ai kiểm tra, giám sát, nghiệm thu chất lượng cống thoát nước. Kinh phí cho duy tu, bảo dưỡng, nạo vét cống rất ít. Xem nhẹ một qui luật trong thoát nước là “Đoạn ống nhỏ nhất quyết định lưu lượng thoát nước của toàn tuyến”. Chỉ cần một đoạn ngắn nào đó bị đứt gẫy, nước từ đó trở về trên sẽ bị tắc, dềnh lên, không thoát được, mặc dù rất dài phía sau nó còn trơn tru, thông thoáng.

 

5) Xả thải tự do đất, cát, gạch vụn, rác v.v.. là nguyên nhân cốt lõi gây ra các điểm úng ngập cục bộ cho dù có mưa vừa phải, tại mọi đô thị ở Việt Nam:

Đất, cát, gạch vụn, rác đủ loại, quanh năm ngày tháng có ở khắp mọi nơi, mặt đường, mặt ngõ. Đây là điểm rất khác biệt so với các nước văn minh, vì dễ nhìn, dễ thấy. Tất cả những rác này bị gió mưa cuốn trôi đẩy vào hố ga, cống thoát nước gần nhất. Khi lòng cống đã bị rác, chai lọ, gạch ngói bịt kín thì Tp. HCM có thuê máy bơm nước loại siêu khủng cũng đành bó tay.

 

5 NGUYÊN NHÂN GÂY ÚNG NGẬP CỤC BỘ SAU MƯA NÓI TRÊN CHẲNG LIÊN QUAN GÌ ĐẾN ĐÊ BAO DÀI 172KM VỚI 12 CỐNG LỚN + CÁC TRẠM BƠM VÀ ĐÊ BIỂN VŨNG TÀU – GÒ CÔNG. DO VẬY CHÚNG SẼ TRỞ NÊN THỪA, VÌ ÚNG NGẬP SAU MƯA VẪN HOÀN ÚNG NGẬP.

 

NGOÀI RA, ĐÊ BAO DÀI 172KM VỚI 12 CỐNG LỚN + CÁC TRẠM BƠM CÔNG SUẤT LỚN CÒN ĐẨY TOÀN BỘ ÚNG NGẬP ĐẾN VÙNG NGHÈO HƠN. VÌ CHÚNG KHÔNG THỂ ĐẨY ĐƯỢC NƯỚC LÊN TRỜI, KHÔNG BƠM ĐƯỢC NƯỚC XUỐNG DƯỚI ĐẤT, KHÔNG TRẢ ĐƯỢC NƯỚC VỀ THƯỢNG NGUỒN, KHÔNG ĐẨY LUI ĐƯỢC TRIỀU. Mặc dù, nhiều triệu người dân vùng này đều đóng thuế tạo nên ngân sách Nhà nước và cũng đang chịu úng ngập, nay lại phải chịu úng ngập cao hơn. Giải pháp này xung đột với quan điểm, cương lĩnh và đường lối cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy giai cấp công nhân và nông dân làm nòng cốt, một đất nước XHCN của dân, do dân và vì dân; phát triển kinh tế, xây dựng đất nước nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách vùng miền.

 

IV. VỀ ĐÊ BIỂN VŨNG TÀU – GÒ CÔNG:

Đê bê tông cốt thép này sẽ hủy diệt rừng ngập mặn Cần Giờ được tổ chức UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của Thế giới, vì đê bê tông cốt thép này sẽ biến vùng này thành hồ lớn chứa nước thải “ngọt tù túng” của toàn Tp. HCM. RỪNG ngập mặn Cần Giờ đã cả trăm năm nay hoạt động như một “ĐÊ” tự nhiên, xuất sắc bảo vệ bờ biển Tp. HCM, chống xói lở, nay bỗng chốc bị coi như “yếu kém”, bị loại bỏ. Sẽ có một đê biển bằng bê tông cốt thép dự ứng lực hoành tráng bao bọc bên ngoài.

Đê rừng tự mọc, tự phát triển không đòi hòi kinh phí xây dựng, nên không có tham nhũng; không cần báo cáo nghiên cứu khả thi, không cần thẩm định, phê duyệt. Loại đê rừng này còn là lá phổi xanh giúp cho hành tinh, Trái đất khỏi nóng lên, hạn chế băng tan và giảm biến đổi khí hậu. Nhân dân cả nước sẽ phải đau đớn nhìn “đê rừng” ngập mặn này chết dần, chết mòn vì sẽ không còn nước mặn nữa để sống.

 

70.400 ha rừng ngập mặn Cần Giờ đã vài trăm năm nay hoạt động như một nhà máy xử lý nước thải tự nhiên mà Trời ban tặng cho Sài Gòn ngày xưa và ngày nay là Tp. HCM. Rừng ngập mặn Cần Giờ hoạt động ngày đêm, quanh năm ngày tháng đã âm thầm xử lý khoảng 2.000.000m3/ngày, nước thải của toàn bộ Tp. HCM chảy qua, được hệ sinh thái rừng làm sạch, sau đó chảy tiếp ra biển. Dịch vụ sinh thái này của rừng ngập mặn Cần Giờ lại hoàn toàn miễn phí. Sự cân bằng ổn định của hệ sinh thái trong 100 năm gần đây chứng tỏ tổng lượng các chất có trong nước thải của thành phố đang nằm trong khả năng chịu tải (carrying capacity) của hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Nếu rừng ngập mặn Cần Giờ chết, có nghĩa là nhà máy XLNT tự nhiên này cũng chết. Thật kỳ lạ khi Bộ Xây dựng và UBND Tp. HCM lại phải đầu 524 triệu USD xây dựng nhà máy XLNT tập trung, công suất thiết kế 480.000m3/ngày cho vùng lưu vực Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè, để làm gia tăng NGẬP ÚNG DIỆN RỘNG KHẮP NƠI như đã phân tích ở bài THẤT BẠI 5.

 

Rừng ngập mặn Cần Giờ còn là hệ sinh thái cung cấp những loài thủy hải sản có chất lượng hảo hạng, có chi phí đầu tư nuôi trồng bằng 0đồng cho dân cư vùng này, hơn hẳn tôm, cua, cá nuôi công nghiệp. Rừng ngập mặn Cần Giờ đang là khu du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách chiêm ngưỡng và đem lại thu nhập cho người dân sở tại.

 

Rất đau buồn khi một tài sản vô giá như vậy được thiên nhiên ban tặng cho Tp. HCM, nhân dân Hà Lan ao ước, thèm khát những không được, nay đã bị Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hủy diệt để xây đê biển bê tông cốt thép, chống ngập úng cục bộ sau mưa, một vài điểm đâu đó tại trung tâm Tp. HCM.

 

Ngoài ra, nếu trường hợp khi tâm của động đất xẩy ra ở giữa của hai hồ Dầu Tiếng và Trị An … không ai muốn điều này cả. Các nhà khoa học chuyên về động đất tầm cỡ Thế giới không thể khẳng định là không bao giờ xẩy ra. Còn nếu thảm họa xảy ra thì ĐÊ BIỂN VŨNG TÀU – GÒ CÔNG sẽ có vai trò cộng hưởng, đẩy thảm họa lên cao hơn nữa. Vì nước vỡ từ 2 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 3,5 tỷ m3 sẽ đổ ụp xuống toàn bộ Tp. HCM, nước không thể thoát nhanh được ra biển vì sẽ bị chặn lại bởi đê biển bằng bê tông cốt thép, sẽ nhanh chóng nhấn chìm vùng hạ lưu trong biển nước mênh mông; xác người và đồ đạc sẽ trôi nổi nhiều nơi.

 

Đầy đủ chi tiết xin đọc bài “CẦN TRẢ LẠI CHÂN LÝ CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN NGẬP ÚNG TP. HỒ CHÍ MINH” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục THỦY LỢI VÀ NGẬP ÚNG TP.HCM.

 

 

THẤT BẠI 7: CÔNG TRÌNH THỦY LỢI ĐÊ BAO VĨ ĐẠI NHẤT TRONG LỊCH SỬ NÔNG NGHIỆP VÀ THỦY LỢI VIỆT NAM LÀ NGĂN NƯỚC NGỌT, ĐỂ CẤY LÚA VỤ 3.

 

Tạo hóa đã ban tặng cho hạ lưu sông Mê Kông 3 đại hồ ĐIỀU HÒA chứa nước khổng lồ là Tonle Sap ở Căm pu chia, Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên ở Việt Nam, nên chỉ có “Mùa nước kiệt” và “Mùa nước nổi” chứ không có LŨ. Người dân đã ngàn năm sống no đủ, hạnh phúc giản đơn với 2 mùa nước này. Mùa nước kiệt thì đồng lúa vàng mênh mông thơm phức. Vào Mùa nước nổi thì tôm, cá, cua, ốc, các loại rau, hoa về đầy đồng. Chúng tự sinh sôi nẩy nở, tự phát triển theo một qui luật của tự nhiên là “chuỗi và mạng lưới thức ăn”, con người không phải chăm sóc, không phải nuôi trồng, người dân chỉ có nô nức đi đánh bắt, thu hoạch.

 

Tuy nhiên, các nhà khoa học thủy lợi miền Bắc vào coi mùa nước nổi là LŨ, cần phải nghiêm trị. Năm 2000, Bộ NN&PTNT thực hiện trên toàn ĐBSCL việc xây đê bao chặn LŨ để cấy lúa vụ 3, gọi là vụ Thu – Đông.  Kinh phí xây đê bao Nhà nước bỏ ra 2 phần, người dân bỏ vào 1. KẾT QUẢ là toàn ĐBSCL đã có nền nông nghiệp với chằng chịt mạng lưới đê bao khép kín có tổng chiều dài là 57.000km (chu vi Trái đất là 40.000km), bao bọc bảo vệ 10.539 ô ruộng trồng lúa vụ 3. Năm 2011 đã gieo trồng 630.000 ha lúa vụ 3, bình quân 5 tấn thóc/ha, thu được 3 triệu tấn thóc. Thành tích này được bao nhiêu bài báo ngợi ca trong nhiều năm tháng.

 

Một nền nông nghiệp THUẬN THIÊN, nhàn hạ, hữu cơ, sinh thái tinh khiết của ông cha ta đã bị cưỡng chế thay bằng nền nông nghiệp vô cơ, với phân hóa học và thuốc trừ sâu, đang reo rắc bệnh ung thư khắp nơi, và mang lại nghèo đói, vất vả triền miên. Những năm qua, dòng khoảng 2 triệu người nam nữ thanh niên, lặng lẽ để lại con thơ cho bố mẹ già tại miền Tây, âm thầm tiến về Tp. HCM phồn vinh và hoa lệ để kiếm sống.

 

Với 630.000 ha (6.300 triệu m2) trồng lúa vụ 3 và 57.000km đê bao ngăn “LŨ” đồng nghĩa với có khoảng 6.300 triệu m3 nước “LŨ” (6.300 triệu m2 x 1m nước cao) bị đẩy về miền xuôi theo qui luật “nước chảy chỗ trũng” lan tỏa khắp nơi. Giả sử tất cả 6.300 triệu m3 nước này dồn toàn bộ cho thành phố Cần Thơ có diện tích là 1.409 triệu m2, sẽ nhấn chìm toàn thành phố trong biển nước cao 4,47m. Nếu được thêm các tỉnh Hậu Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre cùng gánh vác, 5 tỉnh có tổng diện tích là 9.378 triệu m2 sẽ bị ngập úng trong 0,67m nước.  RÕ RÀNG ĐẠI CÔNG TRÌNH THỦY LỢI TRỊ THIÊN ĐANG VÀ SẼ LÀM GIA TĂNG NGẬP ÚNG, ĐẶC BIỆT LÀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ.

 

HIỆU QUẢ của đại công trình chỉ được phơi bầy ra vào tháng 5/2015, nữ chuyên gia quốc tế Tong Yen Dan đã công bố kết quả nghiên cứu của mình “Phân tích những Chi phí và Lợi ích của hệ thống đê bao tôn cao ở Đồng bằng sông Cửu Long”. Nghiên cứu này được Chương trình Môi trường và Kinh tế Đông Nam Á tài trợ (The Economy and Environment Program for Southeast Asia, Văn phòng đặt tại Philippines) “A Cost – Benefit Analysis of Dike Heightening in Mekong Delta” May, 2015. Tác giả đã được sự hợp tác của một số nhà khoa học quốc tế có uy tín trong lĩnh vực kinh tế môi trường (environmental economics), nhận được sự trợ giúp của Trường Đại học Tổng hợp Cần Thơ và đã chọn An Giang là tỉnh điển hình của ĐBSCL để nghiên cứu trong 1 năm. Các phương pháp tính toán chi phí và lợi ích là theo chuẩn quốc tế. HIỆU QUẢ cụ thể như sau:

 

a) Đối với Nhà nước: Tổng lợi ích thu được từ lúa vụ 3 là 139.311 nghìn đồng/ha; tổng chi phí phải bỏ ra 187.076 nghìn đồng/ha. Tổng thua lỗ 47.765 nghìn đồng/ha. Khi nhân với tổng diện tích lúa vụ 3 là 630.000 ha, ta có tổng thiệt hại sẽ là 30.092 tỷ đồng. Trong đó UBND tỉnh An Giang bị thiệt hại 7.165 tỷ đồng.

b) Đối với nông dân: Tổng lợi ích thu được từ lúa vụ 3 là 139.311 nghìn đồng/ha; tổng chi phí phải bỏ ra 142.692 nghìn đồng/ha. Tổng thua lỗ 3.381 nghìn đồng/ha. Khi nhân với tổng diện tích lúa vụ 3 là 630.000 ha, ta được tổng thiệt hại đối với nông dân là 2.130 tỷ đồng. Trong đó nông dân tỉnh An Giang bị thiệt hại là 507 tỷ đồng.

Chúng ta đã phải trả giá rất lớn cho quan điểm trong phát triển ưu tiên KẾT QUẢ hơn HIỆU QUẢ. Đầy đủ chi tiết xin xem bài NHỮNG THẤT BẠI DO DUY Ý CHÍ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục THỦY LỢI VÀ ĐỒNG BẰNG SCL.

 

 

THẤT BẠI 8: DỰ ÁN THOÁT “LŨ’’ SÔNG MÊ KONG RA BIỂN TÂY:

 

Sau thống nhất đất nước, các nhà khoa học thủy lợi ngoài Bắc vào Nam đã gọi “mùa nước nổi” là “”. Năm 1990, Bộ Thủy lợi và Viện Khoa học Việt Nam đã trình Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký quyết định phê duyệt dự án thoát lũ sông Mê kông ra biển Tây, bẻ ngoặt dòng chảy sông Hậu, tại Châu Đốc (An Giang), nghiêng cả biển nước mênh mông của Tứ giác Long Xuyên (độ cao trung bình 1m) đổ vào kênh Vĩnh Tế nối với sông Giang Thành (thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang) ra biển Tây. Dự án cấp quốc gia. Thời gian đó báo chí, các phương tiện truyền thông ngợi ca đậm đặc. Vì vùng dọc biên giới với Căm pu chia có độ cao trung bình (3m – 4m) là cao nhất của ĐBSCL, vì qui luật của tự nhiên là “Nước chảy chỗ trũng”, nước không thể tự chảy ngược lên cao nếu như không có máy bơm, nên dự án này coi  như bị thất bại ngay sau khi khánh thành.

Đầy đủ chi tiết xin xem bài “NHỮNG THẤT BẠI DO DUY Ý CHÍ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục THỦY LỢI VÀ ĐỒNG BẰNG SCL.

 

 

THẤT BẠI 9: BÀI VIẾT “CẦN TRẢ LẠI CHÂN LÝ KHOA HỌC CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN SẠT LỞ BỜ SÔNG, BỜ BIỂN TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

 

Tại Hội nghị Diên hồng về Phát triển bền vững ĐBSCL trước những thách thức của biến đổi khí hậu, được tổ chức tại Cần Thơ 26-27/9/2017 do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì, Bộ NN&PTNT có báo cáo “Sạt lở bờ sông, bờ biển vùng đồng bằng sông Cửu Long, giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu”.

 

Ngay ở đoạn đầu, báo cáo đã dẫn tài liệu quá cũ, từ năm 1961, đưa ra con số trung bình hàng năm có 4.000 tỷ m3 nước và 100 triệu tấn phù sa đổ về ĐBSCL. Trong khi Việt Nam đã là thành viên của Ủy hội sông Mekong mấy chục năm và theo báo cáo của Mekong River Commission, State of the Basin Report 2010 đưa ra con số là 457 tỷ m3 nước, chênh nhau gấp 8,8 lần!!

 

Báo cáo đưa ra thống kê: Sạt lở bờ sông có 513 điểm với tổng chiều dài 520km. Sạt lở bờ biển 49 điểm với tổng chiều dài 266km. Về nguyên nhân gồm:

1) Thiếu hụt phù sa do các đập thủy điện, hồ chứa tại thượng lưu: Đây là nguyên nhân cơ bản của sạt lở bờ sông và bờ biển.

2) Do khai thác cát

3) Do nước biển dâng.

Cả 3 nguyên nhân trên là sai, đều là suy diễn rất cảm tính, rất chủ quan, vì chúng đều đối kháng với những thực tế, đặc điểm và qui luật của tự nhiên như những phân tích dưới đây:

 

1. Về nguyên nhân do thiếu hụt phù sa vì các đập hồ thủy điện thượng nguồn:

ĐBSCL qua 4.000 năm hình thành, có một đặc điểm rất cơ bản là được kiến tạo từ các vật liệu hoàn toàn không kết dính, rất rời rạc, là sỏi, cát, phù sa và nước sông Mê Kong đổ về. Do vậy, việc sạt lở phải là chuyện rất đương nhiên, rất bình thường. Nếu không sạt lở mới là chuyện lạ. Ngày xưa không có các đập hồ thủy điện và phù sa về đầy ắp, cát đầy khắp nơi, thế mà sạt lở bờ sông vẫn thường xuyên và liên tục xảy ra. Các cụ từ ngày xưa đã nói “dòng sông bên lở, bên bồi” hay “hết bồi lại lở”. Bùn và cát được vét từ lòng sông lên đắp vào bờ, sau một thời gian dưới các tác dụng của dòng chảy chúng lại trở về với sông là chuyện đương nhiên, đời thường.

Cho đến giờ, không có bất cứ một bài báo, công trình nghiên cứu khoa học nào (Việt Nam và Thế giới) chứng minh được về mối quan hệ tin cậy giữa thiếu hụt phù sa từ thượng nguồn đổ về với hiện tượng sạt lở tại ĐBSCL. Trong tương lai cũng sẽ không có.

 

Một công trình nghiên cứu tập thể 9 tác giả đến từ các trường đại học, viện nghiên cứu của Vương quốc Anh, Phần Lan và Mỹ Sự sụt giảm phù sa đổ về ĐBSCL là do chuyển dịch hoạt động của các cơn bão nhiệt đới”. Họ đã tính toán tổng lượng phù sa sụt giảm cho giai đoạn 25 năm (1981 – 2005) là 52,6 triệu tấn. Trong đó 33,0 triệu tấn (chiếm 63%) là do sự dịch chuyển hoạt động của các cơn bão nhiệt đới gây ra, còn lại 37% là do các đập hồ thủy điện giữ lại. Các nhà khoa học Thủy lợi, Thủy lực, Thủy văn và Khí tượng của ta nên công nhận những kết quả nghiên cứu này của các nhà khoa học quốc tế, đăng năm 2016, trên tạp chí Nature, doi:10.1038/nature19809 Research Letter. Tóm lại thiếu hụt phù sa chả liên quan gì đến sạt lở bờ sông cả!

 

2. Về nguyên nhân do khai thác cát:

Ngày xưa, ông cha ta không dùng cát. Cát ứ đầy ngoài sông, thế mà dòng sông vẫn bên lở bên bồi. Ngày xưa cũng không có “cát tặc, cát thổ phỉ” thế mà dòng sông vẫn bị sạt lở. Việc khai thác cát chỉ làm sạt lở bờ ngay tại địa điểm đang khai thác. Không có chuyện khai thác cát tại điểm A lại gây ra sạt lở ở đâu đó rất xa, chẳng liên quan.

Bộ NN&PTNT kết tội do khai thác cát, báo chí tung hô đậm đặc, do vậy các địa phương xiết chặt lại việc khai thác cát, có nơi cấm luôn. Chỉ trong có 6 tháng (từ tháng 1 đến 7/2017) cát là mặt hàng duy nhất có giá TĂNG ĐỘT BIẾN LOẠN đến 230% - 250% toàn ĐBSCL. Dự án giao thông trọng điểm Trung Lương - Mỹ Thuận giai đoạn 2, thiếu nguồn cát trầm trọng. Dự án trúng thầu 9.000 tỷ đồng nay đội giá lên 14.000 tỷ đồng chỉ vì tăng giá cát.

 

3. Về nguyên nhân sạt lở do nước biển dâng:

Cho đến nay (năm 2018) bình quân mực nước biển toàn Thế giới mới chỉ dâng có 2 – 3cm (hơn móng tay). Độ dâng mực nước biển tại vùng biển Vũng Tầu – Tp. HCM là 0cm (theo nhà khoa học Hồ Long Phi, năm 2010). Có thể nói 20 năm qua, tổng mực nước biển dâng của biển Đông và biển Tây của ĐBSCL chỉ bằng 1cm (bằng móng tay) thôi. Với mức dâng này tuyệt nhiên không thể là nguyên nhân làm sạt lở bờ sông, hay bờ biển toàn vùng ĐBSCL.

 

4. Qui luật Bờ Đông lở, để bồi bờ Tây”

Tại Hội nghị Diên hồng này, không một nhà khoa học nào của Việt Nam nói về quá trình bồi liên tục bờ biển Tây diễn ra trong 43 năm gần đây (từ năm 1968 – 2011). Duy nhất một nữ chuyên gia của World Bank là Anjali Acharya, trong báo cáo của chị có chỉ ra một qui luật là “Bờ Đông lở, để bồi bờ Tây” thông qua chỉ một slide sau:

 

 

Kính mong Bộ NN&PTNT xem xét lại để các đài, báo không tuyên truyền, bắt nhân dân cả nước, tất cả ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên BCH TW Đảng phải nghe sai, hiểu sai và nói sai về nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ biển.

Đầy đủ chi tiết xin đọc bài “CN TR LI CHÂN LÝ KHOA HC CHO KT LUN V NGUYÊN NHÂN ST L B SÔNG, B BIN TI ĐNG BNG SÔNG CU LONG”.

 

 

THẤT BẠI 10: NGHỊCH LÝ THUẾ SUẤT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Luật thuế Bảo vệ Môi trường số: 57/2010/QH12

Điều 3. Đối tượng chịu thuế: 1. Xăng, dầu, mỡ nhờn. 2. Than. 3….

Điều 8. Mức thuế tuyệt đối được quy định theo Biểu khung thuế dưới đây:

Xăng 1.000 – 4.000 đồng/L; Dầu diesel 500 – 2.000 đồng/L

Than 10.000 – 30.000 đồng/tấn; ….

Căn cứ khung thuế này, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành thuế suất cụ thể. Các năm trước đây, đối với xăng là 3.000đồng/L; đối với dầu diesel 1.500đồng/L và đối với than (bình quân các loại) 10.000đồng/tấn.

 

Trong năm 2018 Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ tăng thuế suất xăng lên 4.000đồng/L, đối với dầu diesel (cho xe tải, xe buýt…) là 2.000 đồng/L, đối với than là 15.000 đồng/tấn (15đồng/kg).

Mục đích tối thượng của thuế BVMT là để bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động gây ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất hàng hóa, sản phẩm gây ra. Vì vậy, đương nhiên “chất gây ô nhiễm nhiều hơn phải chịu thuế suất BVMT cao hơn”, đó là phương châm phổ quát của toàn Thế giới.

 

1. VỀ THAN: Bình quân 1 triệu tấn than có chứa 100kg thủy ngân, 7.500 kg Arsen, 1.100 kg Beryllium, 710kg Cadmium, 8.400kg Crom, 8.900kg Nickel, 2.500kg Selenium v.v.. Bình quân khi đốt 1 triệu tấn than sẽ thải vào môi trường 1,9 – 2,1 triệu tấn khí hiệu ứng nhà kính (CO2, và CH4) làm gia tăng biến đổi khí hậu, 317.000 tấn tro bay (fly ash) + 159.000 tấn tro đáy (bottom ash), tổng cộng là 476.000 tấn tro than (coal ash).

Các hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 10 µm (PM10) có thể đi vào tận phế nang, gây viêm mũi, viêm phế quản, hen suyễn, viêm phổi. Hạt nhỏ hơn 2,5 µm (PM2,5) có chứa cả các kim loại nặng nói trên, đi vào tận màng phổi và đọng lại trong lá phổi gây viêm phổi, sơ hóa phổi, nếu nồng độ cao và kéo dài có thể dẫn đến ung thư phổi. Các khí NOx và SOx là những khí độc hại, có thể xâm nhập vào cơ thể người qua da và các cơ quan hô hấp hoặc cơ quan tiêu hóa. Ở trong khí quyển chúng phản ứng với hơi nước, tạo thành các axit trong các đám mây, gây mưa axit hủy hoại các hệ sinh thái, đa dạng sinh học, hủy hoại hoa mầu và các công trình kiến trúc, xây dựng.

Nước mưa, nước tưới chống bụi cho các bãi đổ tro và xỉ than sẽ thẩm thấu vào tất tật mọi thứ có nguồn gốc từ than, sẽ hòa tan rất nhiều các độc tố hóa học khác nhau trong xỉ than, gạch lát đường làm bằng tro, xỉ than vào nước chảy, thấm, rò rỉ và lan tỏa khắp nơi, đi vào cống rãnh, cuối cùng đổ ra sông, ngòi, hồ ao hủy diệt các hệ sinh thái. Tất tật các độc tố hóa học nói trên trong môi trường không khí, trong đất và nước sẽ đi vào cơ thể con người thông qua đường da, hít thở và ăn uống.

Ngày 29/9/2015 tại Hà Nội, Trung tâm Phát triển và Sáng tạo Xanh (GreenID) cùng với nhóm nghiên cứu của Đại học Harvard đã tổ chức hội thảo quốc tế "Than - Nhiệt điện than: Những điều chưa biết". Chuyên gia Lauri Myllyvirta cho biết “Trong tổng số người Việt chết yểu do ô nhiễm không khí của năm 2011, có đến 4.300 người được xác định liên quan đến khí thải từ các dự án nhiệt điện than. Dự báo khí thải than ở Việt Nam sẽ tăng gấp ba lần vào 2030. Khi đó có khoảng 25.000 người chết mỗi năm”. 10 năm là giai đoạn rất ngắn của cuộc đời sẽ có 250.000 nghìn người chết sớm vì nhiệt điện than.

Bình quân đốt 1 triệu tấn than sẽ thải ra 2,03 triệu tấn CO2. Theo Qui hoạch, các nhà máy nhiệt điện than của Việt Nam vào năm 2020 sẽ thiêu đốt 63 triệu tấn than, phát thải 128 triệu tấn CO2; năm 2030 tiêu thụ 129 triệu tấn than, phát thải 262 triệu tấn CO2 góp phần lớn nhất (trong cả nước) gia tăng biến đổi khí hậu.

 

2. VỀ DẦU DIESEL: Năm 2018, ước tính cả nước tiêu dùng 8,5 triệu tấn. Bình quân đốt 1 lít dầu diesel sẽ thải vào môi trường 2,7 kg CO2 , hơi nước (H2O) và 1,1g khí độc SOx. Như vậy khí thải của dầu diesel là rất sạch so với than.

 

3. VỀ XĂNG: Năm 2018, ước tính cả nước tiêu dùng 6,5 triệu tấn. Bình quân đốt 1 lít xăng thải vào môi trường 2,3 kg CO2, hơi nước (H2O). Hầu như không gây ô nhiễm môi trường, siêu sạch so với than.

Thuế suất BVMT giữa than và xăng nhiều năm qua luôn là một nghịch lý khoa học của ngành thuế Việt Nam, như bảng tổng hợp dưới đây:

 

Oan cho xăng, cần phải trả lại chân lý khoa học cho thuế BVMT, cho phù hợp với bản chất khoa học của chất gây ô nhiễm. Thuế suất BVMT cần tôn trọng những giá trị của xã hội sinh thái, tôn trọng phương châm phổ quát của toàn Thế giới “chất gây ô nhiễm nhiều hơn phải chịu thuế suất BVMT cao hơn”.

 

VÌ THUẾ SUẤT BVMT CỦA THAN LÀ RẤT TƯỢNG TRƯNG, GẦN NHƯ BẰNG KHÔNG, PHÍ PHÁT THẢI CO2 BẰNG KHÔNG NÊN GIÁ ĐIỆN Ở VIỆT NAM THUỘC LOẠI RẺ NHẤT THẾ GIỚI. Những ngành công nghiệp nặng tiêu thụ nhiều điện năng như sắt thép, xi măng, hóa chất… đang nở rộ ở Việt Nam. Hầu hết người sử dụng chẳng có ý thức sử dụng tiết kiệm. Nên Việt Nam cũng là nước có bình quân điện năng sử dụng lãng phí, không hiệu quả, thất thoát cao nhất Thế giới (25% – 35%). Do vậy, những năm vừa qua, trung bình hàng năm chúng ta “vô tư” đập phá 2 nhà máy thủy điện Sơn La; tổng trong 10 năm, từ năm 2020 – 2030, chúng ta sẽ vô tư đập phá khoảng 70 nhà máy thủy điện Sơn La.

 

Thuế suất BVMT đối với than đã rất đắc lực giúp cho nhiệt điện than phát triển, hủy diệt sức khỏe và môi trường sinh thái, làm chết sớm 25.000 người/năm vào năm 2030, gây thiệt hại to lớn về kinh tế cho đất nước, và kìm hãm nặng nề sự phát triển của điện xanh, điện sạch là điện gió và điện mặt trời.

 

Cần phải đổi mới về thuế suất BVMT, chỉ với 3 thuế suất sau: Xăng giảm về 1.000đồng/L, dầu diesel giảm về 1.500đồng/L, than tăng lên 2.000đồng/kg, thu NSNN sẽ tăng lên gấp 3 – 4 lần, điện xanh, điện sạch sẽ thăng hoa, nở rộ. An ninh năng lượng sẽ được đảm bảo. Sức khỏe con người và môi trường sinh thái sẽ cải thiện rõ rệt.

 

CHƯA CÓ MỘT HỌC THUYẾT PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÀO NÓI VỀ GIÁ THÀNH, THỰC GIÁ (GIÁ PHẢN ẢNH SỰ THẬT KINH TẾ, SỰ THẬT SINH THÁI) LÀ YẾU TỐ GÂY LẠM PHÁT, MẤT ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ. NGƯỢC LẠI GIÁ CẢ PHẢI PHẢN ÁNH SỰ THẬT KINH TẾ VÀ SỰ THẬT SINH THÁI LÀ MỘT QUI LUẬT TẤT YẾU TRONG XÃ HỘI SINH THÁI.

Đầy đủ chi tiết xin xem bài “NGHỊCH LÝ THUẾ SUẤT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục ĐIỆN VÀ NĂNG LƯỢNG.

 

 

THẤT BẠI 11: BÀI VIẾT “CHIẾN DỊCH ĐẬP PHÁ ĐÒI LẠI VỈA HÈ ĐÃ THẤT BẠI NGAY KHI ĐẬP NHÁT BÚA ĐẦU TIÊN”

 

Khoảng đầu tháng 2/2017, chiến dịch do Phó chủ tịch quận 1, TP.HCM Đoàn Ngọc Hải khởi xướng. Ào ạt, như một cơn lốc phá dỡ và đuổi bắt người bán hàng rong, trước con mắt chứng kiến của những người dân trong và ngoài nước, tập trung vào các đối tượng “lấn chiếm” sau:

a) Các bậc tam cấp, bậc thềm.

b) Các biển hiệu quảng cáo, chậu hoa trang trí, mái che nắng mưa.

c) Những người buôn bán vỉa hè.

Chiến dịch này đã lan ra Hà Nội, một vài quận huyện rầm rộ ra quân phá dỡ.

Báo chí và dư luận cả nước ủng hộ chiến dịch đập phá, xua đuổi này với 2 lý do: (i) Luật lệ, kỷ cương phép nước phải tôn nghiêm, lấn chiếm vỉa hè, đất công là không được và (ii) Buôn bán vỉa hè làm nhếch nhác bộ mặt đô thị.

Giải pháp đập phá thực sự là đau lòng, là mất mát cho toàn xã hội. Giải pháp không hướng tới đạt mục tiêu, chỉ để lại những vết sẹo nham nhở cho thành phố, vì nó đối kháng với những thực tiễn, qui luật vận động và phát triển của xã hội:

 

1. Buôn bán trên vỉa hè là một nhu cầu tất yếu của xã hội:

Buôn bán trên vỉa hè luôn song tồn với sự phát triển của xã hội loài người. Thế giới luôn và vĩnh viễn tồn tại những người giầu, người nghèo; như 5 ngón tay luôn có ngón dài, ngón ngắn, cũng luôn tồn tại những sản phẩm cao cấp và thấp cấp. Buôn bán trên vỉa hè, nhà hàng ăn uống bầy bàn ghế trên vỉa hè, hiện có ở khắp nơi trên thế giới, ở cả những đô thị văn minh bậc nhất thế giới như Singapore, Praha, Bratislava, Budapest, Viên, Amsterdam, Venice, Florence, Roma, Geneva, Pari, London v.v.. Sự khác nhau giữa ta và họ ở những điểm sau: Đất nước họ ít người nghèo, nên mức độ buôn bán vỉa hè ít hơn. Xứ lạnh của họ không tạo cơ hội nhiều cho văn hóa, nếp sống vỉa hè như ở ta.

 

2. Các bậc tam cấp, biển quảng cáo, mái che là những tiện nghi thiết yếu, không thể thiếu được của cuộc sống:

Nền nhà bắt buộc phải cao hơn vỉa hè hay sân, vườn. Đây là yêu cầu cơ bản của thoát nước, của tiện nghi cuộc sống. Đặc biệt người dân Tp. HCM đã nhiều năm sống cơ cực vì ngập úng và trong tương lai còn nặng nề hơn do biến đổi khí hậu.

Các bậc tam cấp đẹp, tiện nghi và vững chắc đã bị thay thế bằng các bậc lên xuống di động, tạm thời, bằng tre, bằng gỗ, bằng sắt. Người dân gắng gượng, cơ cực leo lên leo xuống. Tuy nhiên, phụ nữ, đặt biệt những người có mang, người cao tuổi không thể leo trèo như vậy trong suốt cuộc đời còn lại của mình; nguy cơ ngã què chân, gẫy tay là hiện hữu.

Mái che mưa, che nắng cũng vậy, là những tiện nghi rất hữu ích. Đối với người đi bộ, khi gặp mưa to, gió lớn hay nắng gay gắt thì những mái che lấn chiếm khoảng không này thự sự là quí. Vậy tại sao lại đập bỏ chúng đi?

 

3. Luật lệ, kỷ cương phép nước phải tôn nghiêm:

Điều này rất đúng, luôn đúng, phù hợp với một qui luật vận động của xã hội làMặt bằng thực thi pháp lý gồ ghề sẽ làm tha hóa cả xã hội”.

Các bậc tam cấp lấn chiếm vỉa hè, đất công tại những đại lộ, mặt phố lớn, phố nhỏ, trong ngõ đều có bản chất như nhau là lấn chiếm đất công, đều là vi phạm pháp luật. Vậy tại sao lại chỉ đập phá, dỡ bỏ ở những mặt phố lớn mà không cần thực hiện ở những mặt phố nhỏ và trong ngõ? Tại sao những bậc tam cấp lấn chiếm vỉa hè, lòng đường ở các quận, huyện khác, thành phố khác lại không bị phá bỏ.

Trên phạm vi cả nước “chiến dịch” này chỉ có thể phá dỡ được khoảng 10% vụ việc, 90% vụ việc lấn chiếm vẫn tồn tại như cũ, vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Như vậy là công bằng? là duy trì kỷ cương phép nước? Chúng ta có thể đập phá được lên đến 50% vụ việc lấn chiếm không? Không, thực sự là không thể, vì như vậy vô tình chúng ta sẽ đẩy có đến cả triệu bà con ruột thịt của chúng ta trở thành kẻ thù. Rất nguy hiểm!

10% gia đình bị cưỡng chế phải chịu đắng cay, họ đương nhiên là uất ức. Họ không may thuộc trong địa phận của những lãnh đạo trẻ nhiệt huyết, nóng vội. Thêm vào đó 90% các bậc tam cấp khác lấn chiếm vẫn tồn tại vô tư đập vào mắt họ. Nghe ngóng, chờ đợi một thời gian, họ “bắt buộc” lại phải lấn chiếm, tái vi phạm, với hy vọng “ông chính quyền” mới sẽ tha bổng, thương cho, để phụ nữ, ông già, bà già đỡ khổ, để bậc tam cấp tiện cho khách đến mua hàng, kiếm kế sinh nhai.

 

4. Nguyên nhân thực sự của ùn tắc giao thông: Đã mấy chục năm nay, Hà Nội và Tp. HCM làm gì có người đi bộ mà đòi lại vỉa hè cho họ. 90% nhu cầu đi lại được thực hiện bằng xe máy và xe ô tô con. Cho dù có 10% người đi bộ để đi xe buýt, thì chẳng có 1 người đi bộ nào lại đi sát vào các bậc tam cấp cả và cũng chẳng có một ai cao tới mức chạm vào các biển quảng cáo ở trên cao. Vậy cớ gì chúng lại bị đập phá, dỡ bỏ? Hà Nội và Tp. HCM hiện có gần 16 triệu xe máy và ô tô con, phủ kín đậm đặc mặt đường, lên cả vỉa hè mới là nguyên nhân thực sự của ùn tắc giao thông.

 

5. Văn minh đô thị, xanh, sạch, đẹp:

Sự bẩn thỉu, nhếch nhác, tràn ngập rác, hoàn toàn không phải do các bậc tam cấp, biển quảng cáo, người buôn bán vỉa hè gây ra. Nó là do yếu kém của công tác quản lý đô thị gây ra. Một khi “quyền làm ăn, buôn bán trên vỉa hè” lại do chính các cá nhân cán bộ quản lý đô thị, hàng ngày quyết định thì sẽ không bao giờ có được văn minh đô thị xanh, sạch, đẹp. Khi những người buôn bán đã phải “chăm sóc, nuôi dưỡng” cán bộ quản lý, thì họ sẽ khai thác tối đa vỉa hè. Muốn có vỉa hè “sạch”, TRƯỚC TIÊN phải có cán bộ quản lý “sạch”, sau đó mới “chấn chỉnh” dân. Không thể có vỉa hè sạch, nếu như cán bộ quản lý không sạch.

 

6. Việc thực thi pháp luật lại vi phạm pháp luật:

Điều này được thể hiện rõ nhất qua phát biểu của ông Võ Văn Hoan, Chánh Văn phòng UBND TP.HCM “Quận 1 đang dẹp vỉa hè nhanh quá, làm như một cơn lốc. Vì nhanh quá nên người dân đặt câu hỏi: Hình như ông này đi nhanh quá, có đúng quy trình không?. Theo những qui định của pháp luật, để thực hiện được việc mang máy móc thiết bị đến cưỡng chế phá dỡ phải qua rất nhiều bước. Việc đầu tiên và rất quan trọng là phải đến đo đạc, xác minh, đối chiếu với sổ đỏ nhà đất, từ đó hai bên thống nhất là các bậc tam cấp có thực sự lấn chiếm vào đất công? lấn chiếm bao nhiêu cm? v.v…

 

Ngày 29/3/2017 bài viết của tôi đã được gửi đến Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đồng chí Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Khoảng 2 tuần sau đó, CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẬP PHÁ ĐƯỢC CHẤM DỨT.

Đầy đủ chi tiết xin đọc bài “CHIN DCH ĐP PHÁ ĐÒI LI VA HÈ ĐÃ THT BI NGAY KHI ĐP NHÁT BÚA ĐU TIÊN” tại website nguyenducthang.vn chuyên mục PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ.

 

 

THẤT BẠI 12: “QUY HOẠCH GIAO THÔNG VẬN TẢI THỦ ĐÔ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2030 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050” LÀ KHÔNG THỂ GIẢI QUYẾT ĐƯỢC ÙN TẮC GIAO THÔNG.

 

Qui hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 519/QĐ-TTg ngày 31/3/2016. Với 9 tuyến đường sắt huyết mạch trên cao (40 tỷ USD), Bộ GTVT kỳ vọng là quả đấm thép đối với UTGT của Hà Nội (tương tự là đối với Tp. HCM). Bản qui hoạch này là RẤT CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC, vì rất không hiệu quả và không giải quyết được UTGT. Vì bản Qui hoạch này là đuổi theo sau, đáp ứng sự gia tăng của các phương tiện giao thông cá nhân, không hướng tới giải quyết tất cả 13 NGHỊCH LÝ GIAO THÔNG của Hà Nội và Tp. HCM hiện có so với Thế giới:

 

  • Nghịch lý 1: Tỷ lệ 90/10, phương tiện cá nhân SIÊU ÁP ĐẢO phương tiện công cộng.
  • Nghịch lý 2: Tỷ lệ xe buýt vận chuyển hành khác công cộng không tăng mà chính xác là ĐANG GIẢM DẦN, ở cả Tp. HCM và Hà Nội: Năm 2014 khoảng 12%, năm 2015 là 10%, năm 2016 là 8%. Năm 2018 Tp. HCM tiếp tục loại bỏ thêm vài tuyến xe buýt nữa.
  • Nghịch lý 3: Xe buýt rỗng khách vẫn cứ chạy như “hung thần đường phố” vì cần chạy đủ lượt, đủ chuyến để nhận cả ngàn tỷ đồng tiền trợ giá. Chính sách trợ giá không theo số lượng hành khách (nhiều hay ít khách) mà là theo số tuyến, lượt xe chạy. Vì vậy, tại các bến đỗ, lái xe trả khách và lấy khách rất nhanh sau đó phải lao vụt đi, bấm còi, lạng lách và chèn ép vượt đường.
  • Nghịch lý 4: Đối với Thế giới xe buýt góp phần giải quyết UTGT nhưng ở ta xe buýt trở thành yếu tố gây UTGT. Hà Nội và Tp. HCM đã cắt giảm xe buýt, không thể đồng hành, cùng tăng thêm đầu xe buýt với 17 triệu ô tô xe máy cá nhân.
  • Nghịch lý 5: Trong khi hệ thống xe buýt vẫn còn đang rất mỏng, rất thưa, mới đảm đương gần 8% nhu cầu đi lại, chưa được phát triển đến GIỚI HẠN CỦA HỆ THỐNG XE BUÝT đã triển khai HỆ THỐNG ĐƯỜNG SẮT TRÊN CAO có suất đầu tư rất cao. Lịch sử của Thế giới là tàu điện, xe buýt mặt đất được ưu tiên phát triển trước tiên, đến kịch giới hạn phát triển (kín, đậm đặc), sau đó mới chuyển sang phát triển subway/tàu điện ngầm.
  • Nghịch lý 6: Tuyến xe buýt nhanh BRT, sang trọng, đắt tiền, có làn đường ưu tiên riêng nhưng vẫn rất vắng khách, công suất khai thác dưới 30%. Xét trên nhiều góc độ (vốn đầu tư, đường ưu tiên, công suất khai thác, hao phí nhiên liệu, chi phí vận hành….) xe buýt thường rõ ràng hiệu quả hơn xe buýt nhanh.
  • Nghịch lý 7: Vào giờ cao điểm ô tô xe máy đi phần đường còn lại chật cứng, trong khi nhìn sang bên đường ưu tiên của BRT trống trơn, như “xin mời” người đi xe máy vi phạm pháp luật, lách sang đi cho thoải mái, khi nào xe BRT đến thì dạt trở về, cứ thế lặp đi lặp lại.
  • Nghịch lý 8: Tất cả hầm và cầu đường cho người đi bộ đều ở tình trạng “ruồi bâu, kiến đậu”. Trong khi ở trên Thế giới, hầm và cầu đường bộ thường xuyên chật kín người.
  • Nghịch lý 9: Ví dụ, có 5 triệu người đi mua sắm hàng hóa và các dịch vụ, đi siêu thị, vào nhà hàng ăn uống… thì đem theo gần như cả 5 triệu xe máy, ô tô con đến các cửa hàng. Vỉa hè thực sự là nơi để đỗ, giữ tạm thời xe máy, ô tô.
  • Nghịch lý 10: Mạng lưới 9 tuyến đường sắt đô thị của Hà Nội thì có đến 85% tổng chiều dài là đi trên cao, còn lại 15% đi ngầm; nghịch đảo hoàn toàn so với Châu Âu khoảng 5% so với 95%. Các đô thị ở Châu Âu rất sợ có đường sắt chạy ầm ĩ trên cao.
  • Nghịch lý 11: Vì đường sắt đô thị trên cao song song với đường bộ bên dưới, đồng hành với xe buýt mặt đất bên dưới, nên hai phương tiện công cộng này sẽ cạnh tranh với nhau, tranh giành hành khách. Tác dụng chống UTGT cho Hà Nội của 9 tuyến đường sắt trên cao này là rất ít. Ở các đô thị lớn văn minh, subway/tàu điện ngầm không cần phải song song với tuyến đường bộ trên đầu nó, do vậy không tranh giành khách với xe buýt mặt đất, chúng hỗ trợ, bổ sung cho nhau rất hoàn hảo.
  • Nghịch lý 12: Đường sắt trên cao KHÔNG THỂ đến tận các khu phố chật hẹp, khu phố cổ của đường phố để đón khách. Ngược lại subway/tàu điện ngầm lại dễ dàng, bởi vì chỉ cần các cửa lên xuống subway/tàu điện ngầm đặt tại ngõ ngách là người dân có thể dễ dàng tiếp cận và hòa nhập vào mạng lưới công cộng để đi khắp mọi nơi.
  • Nghịch lý 13: 10 năm xây dựng một tuyến đường sắt trên cao, là 10 năm gây UTGT của tuyến đường đó. Dân cư sống trên tuyến đường Cầu Giấy coi như suốt đời chịu khổ vì sống quá gần với đường sắt trên cao, khoảng cách từ đường ray, toa tàu tới các ô cửa sổ gia đình người dân là quá gần.

 

QUI LUẬT: ĐỐI VỚI ĐÔ THỊ ĐÔNG DÂN, QUĨ ĐẤT CHO ĐƯỜNG RẤT BÉ NHỎ, NƠI MÀ CÁC PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CÁ NHÂN CHIẾM ƯU THẾ SO VỚI PHƯƠNG TIỆN CÔNG CỘNG THÌ Ở ĐÓ QUẢN LÝ GIAO THÔNG CHẮC CHẮN THẤT BẠI. Ví dụ: TP. HCM, Hà Nội, Bangkok, Jakarta, Manila v.v..

Năm 2017 gần 17 triệu ô tô và xe máy cá nhân ở cả hai thành phố đã phủ kín mặt đường, cả vỉa hè, chật như nêm, UTGT đã đến đỉnh điểm.

Không thể có văn minh đô thị, không thể có giao thông thông minh nếu như các phương tiện cá nhân vẫn chiếm đến 90%.

 

QUI LUẬT CỦA THẾ GIỚI: XE BUÝT, TÀU ĐIỆN MẶT ĐẤT RA ĐỜI TRƯỚC TIÊN, ƯU TIÊN KHAI THÁC TỐI ĐA, ĐẾN HẾT GIỚI HẠN PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG MẶT ĐẤT, SAU ĐÓ MỚI TÍNH ĐẾN XÂY DỰNG TÀU ĐIỆN NGẦM DƯỚI ĐẤT.

 

Tôi rất trăn trở với vấn đề ùn tắc giao thông (UTGT) của Hà Nội và Tp. HCM nên đã tập trung nghiên cứu và tìm ra giải pháp giải quyết căn cơ vấn đề ùn tắc giao thông, với 2- 3 năm thực hiện đầu tư 1,5 tỷ USD (Tp. HCM khoảng 2 tỷ USD). Tôi đặt tên là GIẢI PHÁP XUNG, KHÔNG CÓ TRONG SÁCH VỞ CỦA NGÀNH GIAO THÔNG, tập trung chủ yếu để loại bỏ 13 nghịch lý giao thông nói trên.

Tôi viết ra từ năm 2015, thời gian anh Đinh La Thăng là Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải. Tôi đã mang thư và trực tiếp trao tay cho Thư ký Bộ trưởng, thuyết phục để được có 20 phút trình bầy Bộ trưởng nghe. Sau vài lần đi lại tiếp cận thư ký, tôi được biết là Bộ trưởng đã chuyển giao cho cấp Vụ nghe. Tại cuộc họp, tôi đã báo cáo cho Vụ trưởng với vài chuyên viên nghe về GIẢI PHÁP XUNG. Sau nghe, là thảo luận. Những ý kiến từ phía Vụ trưởng và các chuyên viên cũng chỉ xoay quanh tình hình và thực trạng và những việc mà họ đã làm để chống UTGT, không một ai chỉ ra cho tôi là điểm này, điểm kia của GIẢI PHÁP XUNG là sai, là không khả thi. Ngay từ đầu Vụ trưởng tiếp tôi là do lệnh từ Bộ trưởng, thực tế không quan tâm đến vấn đề do một cán bộ hưu, “ngoại đạo” đề xuất. Thất bại đầu tiên của tôi!

 

Tôi quay về Hà Nội, sau thất bại không được báo cáo cho lãnh đạo cấp cao của Hà Nội, tôi được giao báo cáo cho Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Giám đốc Sở vừa nghe tôi báo cáo vừa xử lý nhiều văn bản gấp của cơ quan. Sau 20 phút nghe báo cáo là phần thảo luận. Các ý kiến của các cán bộ Sở cũng chỉ xoay quanh tình hình và thực trạng UTGT, những công việc mà họ làm, không một ý kiến chỉ ra cho tôi là điểm này, điểm kia của GIẢI PHÁP XUNG là sai, không khả thi. Giám đốc Sở không quan tâm đến việc một công dân ngoài ngành Giao thông đến hiến kế về giải pháp chống UTGT. Cuối buổi họp, Giám đốc Sở giao tôi cho anh Nguyễn Hoàng Hải, Giám đốc Trung tâm quản lý và Điều hành Giao thông đô thị và nói “có gì cứ liên hệ, trao đổi với Hải”. Anh Hải ngồi làm việc tại tầng 6 tòa nhà mới xây tại bến xe Kim Mã. Tôi đã có tất cả 4 – 5 lần đến văn phòng của Hải ngồi trao đổi về GIẢI PHÁP XUNG và những vấn đề giao thông của Hà Nội. Anh Hải ủng hộ GIẢI PHÁP XUNG, đánh giá là khả thi về chuyên môn, kỹ thuật. Tuy nhiên, một thời gian sau anh Hải đã nói với tôi, đại ý “vị trí của em quá thấp, không phụ trách lĩnh vực này, không quyết được”. Tôi hiểu là Giám đốc Sở thờ ơ và nguội lạnh với UTGT, hoặc không chấp nhận đề xuất của người “ngoại đạo”. Thất bại lần thứ 3 của tôi!

 

Sau hành trình gian nan kính xin, kính biếu, kính mời với tất cả 8 lần thất bại, tôi đã thực hiện đăng ký bảo vệ bản quyền tác giả và đã được cấp phép. Nay tôi đăng trên website của mình, rao bán GIẢI PHÁP XUNG chống UTGT triệt để cho Hà Nội và Tp. HCM. Mọi chi tiết xin xem tại website nguyenducthang.vn, chuyên đề ÙN TẮC GIAO THÔNG./.

 

“Không tồn tại một xã hội thuần túy, chỉ tồn tại một xã hội sinh thái. Mọi quan điểm phát triển (kinh tế, chính trị, văn hóa) sẽ đổ vỡ nếu như chúng không xuất phát từ quan điểm xã hội sinh thái”Nguyễn Đức Thắng

 

 

 

 

CÁC BÀI VIẾT KHÁC
THƯ GỬI TS. NGUYỄN XUÂN QUANG
BẢN DỰ THẢO XIN Ý KIẾN HOÀN THIỆN
NGHỊCH LÝ KHOA HỌC THUẾ BVMT LÀ RẤT CÓ HẠI CHO ĐẤT NƯỚC
TIN VUI ĐẾN TỪ SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TP. HỒ CHÍ MINH
CHÂN LÝ KHOA HỌC CHO KẾT LUẬN VỀ NGUYÊN NHÂN NGẬP ÚNG TP. HỒ CHÍ MINH ĐÃ ĐƯỢC HOÀN TRẢ