NHỮNG LỖI SAI CƠ BẢN CỦA BẢN KIẾN NGHỊ CỨU ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Ngày đăng: 12-07-2020 - 05:05:48

NHỮNG LỖI SAI CƠ BẢN CỦA BẢN KIẾN NGHỊ

“HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG”

 

Ngày 01/6/2020 một tập thể nhân sĩ, trí thức tinh tú (elite) của đất nước ký tên trong bản kiến nghị HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG gửi tới bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam và ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam (từ elite do một thành viên trong Ban vận động sử dụng trên Facebook. Toàn văn bản kiến nghị và danh sách những người tham gia ký tên xem ở bên dưới). Trong bản kiến nghị này có hai lỗi sai cơ bản về khoa học và về chính trị. Cụ thể như phân tích dưới đây:

 

I. SAI VỀ KHOA HỌC

 

Bản kiến nghị đã quy kết cho “các đập hồ thủy điện của Trung Quốc góp phần gây hạn hán (trong những năm ít nước, do phát điện gián đoạn) ở ĐBSCL và Lào ngăn đập làm nhà máy thủy điện với tham vọng là bình điện của Châu Á.

 

1. Phát điện gián đoạn ở đây được hiểu là để nâng cao hiệu suất của máy phát điện, mực nước trong hồ thủy điện cần phải đủ cao. Vì vậy, nhà máy thủy điện sẽ hoạt động gián đoạn trong mùa khô theo chu kỳ: (nghỉ để tích nước – xả nước để phát điện – nghỉ để tích nước – xả nước để phát điện) lặp đi lặp lại. Trong vài ngày nghỉ để tích nước sẽ gây hạn hán cho ĐBSCL.

 

Đó là CĂN CỨ KHOA HỌC để kết tội các đập hồ thủy điện ở thượng nguồn, Trung Quốc là nguyên nhân gây hạn hán cho ĐBSCL (cách xa các đập thủy điện Trung Quốc trên 3.000km). Không cần thiết xem và đọc những số liệu ghi chép của cả một mạng lưới các trạm quan trắc theo dõi lượng mưa rơi trên các vùng miền và lưu lượng dòng chảy trên toàn lưu vực sông Mê Công mấy chục năm qua, trong mùa khô cũng như mùa mưa đều được ghi chép cẩn thận và được Ủy hội sông Mê Công công bố.

 

2. Tuy nhiên vận hành theo cách gián đoạn, không liên tục sẽ đối kháng với NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA ĐIỀU ĐỘ ĐIỆN, ĐẢM BẢO AN NINH HỆ THỐNG ĐIỆN. Khi nguồn cung điện gián đoạn, không đủ đáp ứng nhu cầu phụ tải sẽ gây sụt áp và biến tần, gây ra những hệ lụy khác cho hoạt động Điều độ hệ thống điện. Khi nguồn cung giảm, không đáp ứng nhu cầu sẽ gây hại và tổn thất cho mạng lưới truyền dẫn điện, hệ thống đảm bảo an toàn sẽ tự động cắt phụ tải (cắt điện), gây nhiều thiệt hại cho người dân và các doanh nghiệp đang sản xuất. Đảm bảo an ninh điện, đồng nghĩa với hiệu quả của hệ thống điện, có nghĩa là phải duy trì nguồn cung điện TRONG TỪNG PHÚT phải lớn hơn hoặc bằng nguồn cầu về điện. Điều độ hệ thống điện là hoạt động chỉ huy, điều khiển quá trình phát điện, truyền tải điện, phân phối điện và sử dụng điện trong hệ thống điện quốc gia theo quy trình, quy chuẩn kỹ thuật và phương thức vận hành đã được xác định. Ở Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành Thông tư quy định quy trình điều độ hệ thống điện quốc gia. Đó là văn bản pháp lý số: 40/2014/TT-BCT ngày 05/11/2014, toàn ngành điện phải tuân thủ.

 

3. Các nhà khoa học Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, báo chí những năm gần đây thường xuyên đưa thông tin “Hạn hán, xâm nhập mặn ở ĐBSCL là do các đập hồ thủy điện của Trung Quốc, của Lào gây ra”. Quan điểm này đã hạ thấp tư duy và trí tuệ của người Việt Nam.

 

4. Trên Thế giới KHÔNG TỒN TẠI MỘT ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN ĂN NƯỚC để gây hạn hán cho hạ lưu. Chính xác đập hồ thủy điện CHỈ ĂN NƯỚC MẤY NGÀY ĐẦU khi cắt băng khánh thành, đóng đập mà thôi. Giả sử một đập hồ thủy điện có công suất 1.200MW dung tích chứa tối đa được phép 3 tỷ m3 nước. Nếu khánh thành nhà máy thủy điện vào mùa mưa, thời điểm trung bình giả sử lưu lượng nước về hồ là 20.000m3/s, sẽ chỉ sau gần 2 ngày là đầy ắp hồ (lấy dung tích chia cho lưu lượng được thời gian). Nếu khánh thành vào mùa khô, lưu lượng nước về giả sử 5.000m3/s, sẽ chỉ sau gần 7 ngày là đầy ắp hồ. BẮT BUỘC PHẢI THÁO NƯỚC, XẢ ĐI, NẾU KHÔNG DỌA VỠ ĐẬP, TAI HỌA KINH HOÀNG CHO VÙNG XUÔI.

 

Ví dụ: Mặc dù mực nước sông Hồng tại Hà Nội đã lên đến báo động 2 (10,5m, báo động 3 khi mực nước là 11,5m) nhưng đập hồ thủy điện Hòa Bình cũng có nguy cơ bị vỡ, BẮT BUỘC VẪN PHẢI XẢ LŨ cho chảy về Hà Nội, để dọc đường về, có vỡ đê ở đâu đó còn hơn là VỠ ĐẬP THỦY ĐIỆN. Điều đó có nghĩa là KHÔNG CÓ ĐẬP HỒ THỦY ĐIỆN NÀO ĐƯỢC PHÉP ĂN, GIỮ NƯỚC Ở MỨC QUÁ TIÊU CHUẨN THIẾT KẾ.

 

Những ngày cuối tháng 6, đầu tháng 7/2020 vừa rồi, báo chí Việt Nam đưa đậm đặc thông tin về lũ lụt kinh hoàng tại các tỉnh  Giang Tô, Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Hồ Nam và thành phố Trùng Khánh. Đập thủy điện Tam Hiệp lớn nhất Thế giới trên sông Trường Giang bị đe dọa vỡ đập, bắt buộc phải xả lũ, mặc dù hạ lưu đang ngập lụt mênh mông.

 

5. Tại báo cáo thường niên của Ủy hội sông Mê Công: State of the Basin report 2018, SOBR, năm nào cũng như năm nào, luôn có thông tin sau: Bình quân lưu lượng nước hàng năm của con sông Lan Thương, từ các đập hồ thủy điện phía Trung Quốc đổ vào Lào chảy về xuôi:

  1. Vào MÙA KHÔ đã tăng lên 35%, từ giai đoạn 2000 – 2009 đến giai đoạn 2010 – 2017.
  2. Vào MÙA MƯA lại giảm 31%, từ giai đoạn 2000 – 2009 đến giai đoạn 2010 – 2017.

Hai câu này được coi là tuyên bố chung của Ủy hội sông Mê Công thừa nhận vai trò hữu ích về nguồn nước của các đập hồ thủy điện Trung Quốc.

 

6. Cũng tại báo cáo thường niên của Ủy hội sông Mê Công: State of the Basin report 2018, SOBR, năm nào cũng như năm nào, luôn có thông tin sau: Lãnh thổ Trung Quốc đóng góp 18% tổng lượng nước hàng năm của toàn sông Mê Công (475 tỷ m3/năm). Việt Nam đóng góp 11% (từ hai con sông Sesan và Srepok ở Tây Nguyên đổ sang đất Căm pu chia). Tuy nhiên vào mùa khô tỷ lệ đóng góp của Trung Quốc tăng lên 25% do lượng băng, tuyết tan chảy ở vùng cao nguyên Tây Tạng đổ về, làm cho các hồ lại có khá nhiều nước. Nếu không có sự gia tăng này thì ĐBSCL còn chịu đau đớn nữa vì hạn, mặn vào mùa khô.

 

7. Không có số liệu thống kê trong tổng số 475 tỷ m3/năm thì bao nhiêu % nước được Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào và Căm pu chia khai thác sử dụng (cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt); còn lại phần rất to lớn là đổ vào ĐBSCL và đổ ra biển Đông.

 

Vùng thượng lưu ở Trung Quốc là vùng núi non hiểm trở, thời tiết lạnh giá tê tái, dân cư rất thưa thơt, nông nghiệp hầu như không phát triển, vậy họ tích nước, trữ nước vào mùa khô để làm gì? Bỏ ra nhiều ngàn tỷ nhân dân tệ để xây đập hồ thủy điện chỉ để tích nước, không phát điện, nhằm gây hại cho nhân dân ĐBSCL vào mùa khô ở cách xa trên 3.000km. Chỉ có nhà lãnh đạo Trung Quốc thần kinh mới làm điều này.

 

8. Đối với Lào, chúng ta đã đổ lỗi cho cả đến 9 dự án thủy điện, hiện năm 2020 vẫn là những ĐỀ XUẤT TRÊN GIẤY. Chỉ có hai nhà máy đã đi vào vận hành ở Lào có qui mô thua kém xa so với đập hồ thủy điện Hòa Bình, là Xayabouri ở trung Lào (1.285MW) và Don Sahong ở hạ Lào (260MW). Do vậy, qui kết tội cho chúng quả là buồn cười. Điển hình của 1 trong 9 dự án giấy tiên phong, tích cực nhất là dự án thủy điện Luang Prabang (1.460MW), được hình thành từ năm 2007. Tổng vốn đầu tư gần 5 tỷ USD. Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) nắm cổ phần chi phối là 38%. Công ty đã bỏ vào khoảng 5,7 triệu USD. Đến nay có thể coi như mất, vì hoàn toàn không hiệu quả tài chính. Giá thành thủy điện này cao ngất ngưởng, cao hơn gấp đôi giá thành bình quân điện mặt trời.

 

9. Vào mùa khô, tháng 4 là tháng kiệt nhất trong năm. Năm 1993 khi chưa có các đập hồ thủy điện ở Trung Quốc, tổng lưu lượng nước vào Việt Nam chỉ có 1535 m3/s được coi là thấp lịch sử (kỷ lục) thế mà chẳng thấy hạn hán, xâm nhập mặn xảy ra tại ĐBSCL như những năm gần đây, mặc cho lưu lượng trung bình tháng 4 của nhiều năm gần đây khoảng 2.800 m3/s, bao gồm từ năm 2015 đến nay. Đây là một thực tế được tất cả các nhà khoa học Thủy lợi và Khí tượng thủy văn của Việt Nam công nhận, số liệu chính xác có thể vênh nhau đôi chút mà thôi. Đó là một logic thực tế rất sơ đẳng để chúng ta phải đi tìm nguyên nhân gia tăng hạn, mặn tại ĐBSCL theo hướng khác. Lời giải của tôi là DO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN GÂY RA (xin bấm chuột vào câu để đọc chi tiết), được chứng minh bằng tổng số 90 TT/ST liệt kê ra cùng với phân tích.

 

II. SAI VỀ CHÍNH TRỊ:

 

Trong bản kiến nghị có câu, nguyên văn Việt Nam không thể di chuyển ĐBSCL đi xa người láng giềng xấu bụng Trung Quốc.” Câu này hoàn toàn không nên, thể hiện sự yếu kém về chính trị của những nhân sĩ, trí thức elite của đất nước.

 

Trong cuộc đấu tranh với Trung Quốc hiện nay, chúng ta nên đấu tranh, phê phán, phản đối với những người cầm quyền có tham vọng bành trướng, bá quyền tại Biển Đông. Nếu biến cả 1,4 tỷ nhân dân Trung Quốc thành kẻ thù của nhân dân Việt Nam sẽ là vô cùng nguy hại, sai lầm rất lớn. Cho dù có coi 1,4 tỷ người dân Trung Quốc là người láng giềng xấu bụng cũng rất không nên. Các cụ nhà ta dậy câu này ai cũng biết “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.

 

Trong cả cuộc chiến tranh dài giữa Việt Nam và Mỹ, bắn giết nhau trực diện, máy bay Mỹ ném bom oanh tạc gây bao nhiêu chết chóc đau thương, nhưng Bác Hồ vẫn chưa bao giờ coi nhân dân Mỹ là kẻ thù, luôn coi trọng và vận động người dân Mỹ phản đối chiến tranh, ủng hộ Việt Nam. Người dân Mỹ thực sự góp phần rất lớn cho chiến thắng của miền Bắc Việt Nam. Hơn thế nữa, trong suốt cuộc chiến tranh miền Bắc giải phóng miền Nam nếu không có sự ủng hộ và tham gia, đồng lòng của nhân dân miền Nam thì miền Bắc không thể thắng được. Nếu cả nhân dân miền Nam đều đồng lòng sát cánh cùng chính quyền ngụy và lính Mỹ chiến đấu đến cùng với miền Bắc, kết cục đất nước Việt Nam sẽ nát bét như tương.

 

Chúng ta là những người yêu nước, chiến binh Việt Nam chứ không phải là những chiến binh Al Qaeda hay Taliban mù quáng, không chống chọi được với quân đội Mỹ lại đi đánh bom cảm tử giết thường dân vô tội. Chiến đấu với những người cầm quyền có tham vọng bành trướng bá quyền tại Biển Đông bây giờ phải là cuộc chiến đấu về trí tuệ, chứ không phải chiến đấu bằng cơ bắp và ý chí nữa. Cuộc chiến đấu bằng trí tuệ này hãy để cho Bộ Chính trị làm. Xin đừng kích động gần 100 triệu dân Việt Nam xông lên chiến đấu với 1,4 tỷ người dân Trung Quốc nữa. Chỉ cần chúng ta lên các chợ đường biên thôi, sẽ chứng kiến được cuộc sống hạnh phúc, giao lưu, gắn bó đời thường giữa nhân dân hai nước. Hòa bình mới là thiên đường cho dân tộc Việt Nam!

 

III. KẾT LUẬN

 

Những giải pháp nêu ra trong bản kiến nghị là không có gì mới, không có đột phá để Quốc hội hay Chính phủ phải họp bàn về những kiến nghị của những nhân sĩ, trí thức elite của đất nước. Khi Thủ tướng Chính phủ giao bản kiến nghị này cho Bộ NN&PTNT nghiên cứu và báo cáo. Tôi dự đoán là Bộ NN&PTNT sẽ rất dễ dàng báo cáo lên Thủ tướng là những nội dung trong kiến nghị trùng lắp với những nội dung mà Bộ NN&PTNT đang từng bước thực hiện, cụ thể hóa Nghị quyết Chính phủ số: 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về “Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu”.

 

Chúng ta sẽ không thể lớn lên được, nếu cứ “Mất mùa bởi tại thiên tai; được mùa bởi tại thiên tài Đảng ta”. Hãy coi tài nguyên nước rơi trên nước nào, nước đó được toàn quyền quyết định cho lợi ích dân tộc của họ. Sự phát triển của ta không nên trông đợi, ỷ vào sự giúp đỡ của bạn.

 

Hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng TỰ NHIÊN do thời tiết gây ra đã có từ  ngàn năm rồi, khỏi phải bàn. Điều cần phải bàn là hạn hán, xâm nhập mặn, ngập úng NHÂN TẠO, do con  người tạo ra, do chúng ta gây ra, mà tiêu biểu là DO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ĐÃ ĐẺ RA NÓ, do những sai lầm trong chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp.

 

KHÍ HẬU là ngàn năm ổn định. Tuy nhiên toàn Thế giới (ngoại trừ Việt Nam) đều nhìn thấy khí hậu đang có nguy cơ thay đổi, rất nguy hiểm cho loài người và cho cả loài vật; đơn giản là cho cả cuộc sống trên Trái đất. Họ đã không đổ lỗi cho thiên nhiên, đã nhìn thấy lỗi chính là do con người gây ra (anthropogenic activity). Mấu chốt là tập trung vào sự phát thải cacbon (các khí hiệu ứng nhà kính, CO2 và CH4) do các hoạt động sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, xăng, dầu và khí đốt). Kết quả là thỏa thuận Paris 2015, được hơn 150 nguyên thủ các quốc gia ký, cam kết thực hiện cắt giảm phát thải cacbon, mà chủ yếu là cắt giảm nhiệt điện than, nhằm giữ cho KHÍ HẬU ỔN ĐỊNH như ngàn năm đã có.

 

Tóm lại, do có hai lỗi sai cơ bản về khoa học và chính trị, và do những nội dung kiến nghị không có gì là mới, đột phá, vì vậy, không  nên có bản kiến nghị này.

 

Nguyễn Đức Thắng, Hà Nội, ngày 12/7/2020

 

=================

 

Để cứu lấy Đồng bằng Sông Cữu Long, rất cần sự lên tiếng của tầng lớp Thân sỹ Trí thức. Chúng tôi soạn bản kiến nghị này trình lên Chính phủ. Các Thân sỹ, Trí thức quan tâm đến thực trạng của đất nước, muốn đồng hành cùng chúng tôi, và đồng ý ký tên xin soạn rõ theo cú pháp: {Họ Tên , chức danh/nghề nghiệp (nếu có), Tỉnh hoặc Thành phố (và quốc gia nếu ở nước ngoài) đang cư trú}. Gửi về địa chỉ email: tuyenbodbscl@gmail.com

Trân trọng cám ơn

KIẾN NGHỊ

 

HÃY CỨU LẤY ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

 

Kính gởi: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Chủ tịch Quốc hội n
ước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Đồng kính gởi: Ông Nguyễn Xuân Phúc.
Thủ tướng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nơi chiếm 90% mức xuất khẩu gạo, vùng nuôi trồng thủy sản xuất khẩu, cây trái lớn nhất cả nước nhưng là nơi mà cơ sở hạ tầng lại thấp nhất so với các vùng khác. Đời sống người dân ở đây còn khó khăn muôn bề. Trong khi đó tình hình biến đổi khí hậu cũng như tác động xấu của con người vào môi trường sống dự báo sẽ có những hậu quả tai hại khôn lường. Người dân ĐBSCL vì thế sẽ phải đương đầu ra sao để bảo vệ và phát triển cuộc sống? Trước tình hình bức xúc này, một số nhân sĩ, trí thức, chuyên gia nông nghiệp, thủy lợi chúng tôi cùng nhau viết bản kiến nghị này với mong muốn góp phần với Nhà nước trong việc vạch ra một chính sách chiến lược phát triển hợp lý hữu hiệu để phát huy các mặt thuận lợi có sẵn của vùng miền đồng thời khắc phục những sai sót đã phạm phải, nhằm giúp cho Đồng bằng sông Cửu Long được phát triển đúng hướng, bền vững trong xu thế phát triển chung của cả nước.

Mới đây, ngày 26.5.2020, trong cuộc họp Thường trực Chính phủ về phát triển vùng kinh tế trọng điểm, người đứng đầu Chính phủ đã có yêu cầu cần đặc biệt quan tâm đến hạ tầng khu vực ĐBSCL, nên thiết tưởng bản kiến nghị này, được xây dựng trên tinh thần nghiên cứu khoa học vô tư khách quan, sẽ có thể cung cấp thêm được một nguồn tham khảo bổ ích cho đại cuộc phát triển đất nước.

Nhiều năm nay, việc xâm nhập mặn các dòng sông và nạn hạn hán, thiếu nước ngọt trong canh tác trong sinh hoạt thường xuyên xảy ra ở một số tỉnh ĐBSCL. Việc tăng vụ trồng lúa đã có hiệu quả làm tăng sản lượng gạo và lượng gạo xuất khẩu, nhưng nông dân nghèo vẫn hoàn nghèo. Xuất khẩu gạo càng tăng, thành tích chính phủ càng lớn thì chi phí đầu tư càng lớn, nạn ô nhiễm môi trường càng gia tăng do qui mô sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật ngày càng lớn, môi trường sống càng bị đe dọa nghiêm trọng.

Nhìn lại chặng đường dài, không thể không hỏi vì sao một vùng đất màu mỡ, giàu tiềm năng mà vẫn là vùng trũng về kinh tế, cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục. Nhiều người trẻ vẫn phải đi xuất khẩu lao động, làm “osin” hoặc lấy chồng mà không có tình yêu, cực khổ muôn bề chỉ vì hy vọng kiếm ít tiền gởi về cho cha mẹ.

Về môi trường tài nguyên thiên nhiên, biểu hiện dễ thấy là sự bức tử dòng sông Mê-Kông. Trung Quốc xây đập thủy điện thượng nguồn sông Mê-Kông góp phần gây hạn hán (trong những năm ít nước, do phát điện gián đoạn), ngăn chặn một phần phù sa di chuyển về hạ lưu, tiêu diệt một số loài thủy sản vì chúng mất môi trường sinh đẻ tự nhiên. Lào ngăn đập làm nhà máy thủy điện với tham vọng là bình điện của Châu Á... Việc tăng vụ sản xuất lúa, xây dựng cơ sở hạ tầng, tàn phá rừng tự nhiên trong lưu vực sông đã góp phần làm khô hạn; và phía Việt Nam cũng đã góp phần không nhỏ trong việc gây nạn hạn này.

Môi trường và tài nguyên tự nhiên suy thoái một phần là do biến đổi khí hậu, khai thác thiếu bền vững ở thượng nguồn sông Mê-Kông, song nguyên nhân chính là Chính phủ đã thiếu một chiến lược lâu dài thích ứng với tự nhiên và xu thế phát triển của khu vực. Không thể đổ lỗi cho khách quan mà phải tìm cách thích ứng với các tác động không mong muốn khách quan ấy. Một thời gian quá dài, Chính phủ ưu tiên cho sản xuất lương thực ngay cả khi đã dư thừa cho nhu cầu trong nước. Chính phủ đã quá tự hào với việc trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, đóng góp vào an ninh lương thực thế giới, bất chấp việc khai thác quá mức tài nguyên đất, nước với việc gia tăng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và không có hành động đáng kể nào để bảo vệ sức khỏe của đất cũng như môi trường. Cũng chính vì tư duy phải đứng ở “hàng đầu” trong xuất khẩu gạo mà Chính phủ đã bỏ quên lợi thế so sánh về thị trường các cây trồng khác, thu nhập cao hơn, sử dụng tài nguyên ít hơn và cuối cùng là sản xuất bền vững hơn.

Việt Nam không thể di chuyển ĐBSCL đi xa người láng giềng xấu bụng Trung Quốc. Việt Nam cũng không thể ra lịnh cho Lào, Thái Lan. Việt Nam cũng không thể chống lại biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Việt Nam chỉ có thể làm cho người nông dân giàu hơn, ĐBSCL phát triển hơn bằng chính sách biện pháp phù hợp, thuận với qui luật thiên nhiên.

Gần đây trên nhiều diễn đàn, mạng xã hội đang có sự tranh luận gay gắt giữa việc dừng hay tiếp tục xuất khẩu lúa gạo. Đây là việc nhỏ, song nó cho thấy việc thiếu chiến lược trong điều hành sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam, chính sách hướng đến sự an toàn cho Chính phủ hơn là đứng về phía lợi ích của người dân. Chính phủ quá nhấn mạnh đến an ninh lương thực mà không nhấn mạnh đến an ninh dinh dưỡng trong khi cả thế giới từ lâu đã thực thi an ninh dinh dưỡng với việc đa dạng hóa nguồn thực phẩm. Đây chính là lý do tại sao Việt Nam xuất khẩu gạo thứ 2-3 thế giới trong rất nhiều năm mà chỉ số An ninh lương thực (GFSI) của Việt Nam năm 2019 chỉ xếp thứ 57 trong 113 nước được quốc tế đánh giá, trong khi tại ASEAN, Singapore không sản xuất một cân gạo nào lại xếp thứ 12 thế giới. Điều này cũng phản ánh qua chỉ số hạnh phúc toàn cầu (WHI), khi VN chỉ được xếp thứ 94 trong 156 quốc gia được xếp hạng.

Vì những lẽ trên, chúng tôi, những người ký tên dưới đây khẩn thiết kiến nghị Chính phủ:

1. Rà soát, bổ sung Nghị định 120 năm 2017 về phát triển bền vững ĐBSCL để có một chiến lược phát triển dài hạn, toàn diện về ĐBSCL thuận theo tự nhiên. Có chiến lược phát triển phù hợp từng vùng, tiểu vùng nông nghiệp sinh thái. Đa dạng hóa sản phẩm theo điều kiện tự nhiên. Thay đổi cơ cấu sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản trước hết vì mục tiêu an ninh dinh dưỡng của dân tộc.

2. Mọi chính sách cần đặt lợi ích của người dân nói chung và người nông dân nói riêng làm trung tâm. Sản xuất thông minh, hài hoà giữa các yếu tố đáp ứng thị trường, bảo vệ tài nguyên, bảo đảm lợi ích người trồng lúa, loại bỏ tư duy Việt Nam làm “an ninh lương thực thế giới”.

Riêng về sản xuất lúa gạo, cần qui hoạch sản xuất lúa vừa đủ ăn và có dự trữ trong 3 tháng và chỉ sản xuất tại những vùng thuận lợi nhất, trên cơ sở sử dụng thông minh tài nguyên đất, nước và bảo vệ môi trường… Không làm lúa 3 vụ, chỉ làm 2 vụ ở thời điểm thuận lợi về thiên nhiên. Ở vùng bị xâm mặn chỉ duy trì một vụ lúa vào mùa mưa, thời gian còn lại nuôi tôm cá hoặc những thủy hải sản phù hợp. Chuyển đổi một phần đất sang trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản. Để chuyển đổi đất lúa cần có giải pháp để sản xuất hiệu quả, nhất là giải pháp về logistics, về chế biến, và bảo quản.

3. Áp dụng kỹ thuật canh tác tận dụng ưu thế tự nhiên. Chính phủ cần có chính sách hỗ trợ các trường đại học ĐBSCL, đầu tư hơn nữa cho công tác nghiên cứu để cùng với nông dân tìm những kỹ thuật canh tác cây lúa, cây trái, nuôi trồng phù hợp , đem lại lợi ích cao nhất cho người nông dân.

Trên cơ sở Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/04/2018, về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ cần có một chính sách dài hơi khuyến khích các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho sản xuất, bảo quản và chế biến nông sản, thủy sản theo hướng chuỗi giá trị bền vững hài hòa với cơ sở hạ tầng phát triển, logistics hiện đại để thực sự doanh nghiệp là động lực phát triển của đất nước. Có chính sách hỗ trợ bằng miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu.

4. Chỉ đạo các địa phương không nên cưỡng bức nông dân và các thành phần khác vào hợp tác xã , không đặt chỉ tiêu phát triển hợp tác xã. Khi người dân có nhu cầu liên kết với nhau, họ sẽ chủ động xây dựng hợp tác xã. Qua quá trình phát triển, nhà nước có thể hướng dẫn họ cách tổ chức điều hành hợp tác xã theo phương thức sản xuất kinh doanh tiên tiến hiện đại như các nước phát triển, trên tinh thần tự nguyện của các thành viên.

5. Tăng cường phát triển giao thông, hạ tầng ĐBSCL. Bỏ Tổng cục Dự Trử Quốc Gia, lập Quỹ Dự Trử Quốc Gia cho doanh nghiệp đấu thầu thực hiện.

Đối với nước ngọt phục vụ cho sinh hoạt đời sống hàng ngày, chính phủ nên hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất tại chỗ với chính sách ưu đãi và lâu dài. Chính phủ có kế hoạch hướng dẫn giúp đở người dân tích trử nước ngọt bằng nhiều hình thức trong mùa mưa và đưa vào trường chương trình giáo dục các em học sinh tiết kiệm nước trong sinh hoạt.

6. Bằng mọi biện pháp thích hợp, phục hồi lại rừng tự nhiên Tây Nguyên trên diện rộng để bảo vệ lưu vực và nguồn nước sông Cửu Long và phục hồi các khu rừng tự nhiên vốn có ở ĐBSCL. Việt Nam cần có kế hoạch thực hiện khai thác điện gió, điện mặt trời nổi, điện mặt trời, điện hải lưu và các nguồn năng lượng tái tạo khác vừa nhanh vừa rẻ. Quá trình đó sẽ làm giảm dần đi đến chỉ còn một phần thủy điện thật sự hữu ích với qui vận hành thích hợp (phát điện, chống lũ, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp), duy trì hoặc trả lại từng phần dòng chảy tự nhiên trên các sông suối. Nhà nước VN nâng cao ý thức và trách nhiệm ủy viên Ủy Ban Sông Mê-Kông, trước mắt cũng như về lâu dài cần thúc đẩy nhanh đối thoại giải quyết việc phục hồi sông Mê-Kông giữa các nước trong Ủy ban Sông Mê-Kông và Trung Quốc để hài hòa lợi ích các nước liên quan. Phục hồi các vùng ngập mặn ở các cửa sông, các vùng ven bờ biển để vừa giữ biển vừa lấn biển vừa tạo môi trường sống cho các loài ven biển.

7. Chính phủ hãy nhanh chóng điều chỉnh chính sách quốc gia trên cơ sở hài hòa lợi ích các vùng trong cả nước, không để cho ĐBSCL đóng góp 90% lương thực xuất khẩu, là chủ lực về thủy sản, cây trái… mà hạ tầng kém phát triển, cuộc sống của người dân về mọi mặt đều xếp cuối so với các vùng khác.

Ngày 1 tháng 6 năm 2020

DANH SÁCH KÝ TÊN:

  1. Vũ Trọng Khải, PGS Tiến Sĩ, Chuyên gia độc lập Chính sách Nông nghiệp.
  2. Đào Công Tiến, PGS, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế T/p HCM
  3. Nguyễn Thế Hùng, GSTS, Đại học Đà Nẵng
  4. Nguyễn Quang A, TS Tin học, Hà Nội
  5. Phạm Xuân Yêm, GS Vật lý, Paris, Pháp
  6. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y Khoa, Australia.
  7. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hóa học, Sài Gòn
  8. Nguyễn Mai Oanh, ThS Kinh tế Phát triển, Sài Gòn
  9. Nguyễn Huệ Chi, GS Ngữ văn, Hà Nội
  10. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội
  11. Trần Đức Quế, Chuyên viên hưu trí, Hà Nội
  12. Nguyễn Thị Kim Chi, Nghệ sĩ ưu tú, TP HCM
  13. Võ Văn Thôn, nguyên GĐ Sở Tư pháp TP HCM.
  14. Nguyễn Thu Giang, nguyên PGĐ Sở Tư pháp TP HCM
  15. Kha Lương Ngãi, nguyên phó TBT báo SGGP.
  16. Bùi Nghệ, Kỹ sư , Sài Gòn.
  17. Lê Phú Khải, Nhà văn, Nhà báo. Sài Gòn.
  18. Lại Thị Ánh Hồng, Nghệ sĩ, Sài Gòn.
  19. Lê Thân, Nhà hoạt động Xã hội. Sài Gòn.
  20. Hoàng Hưng, Nhà thơ-nhà báo tự do, TPHCM
  21. Mạc Văn Trang, TS Tâm lý học, Hà Nội
  22. Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An
  23. Hoàng Dũng, PGSTS Ngữ văn, TPHCM
  24. Phạm Đình Trọng, Nhà văn, Sài Gòn
  25. Giáng Vân, Nhà thơ, Hà Nội
  26. Trần Bang, Kỹ sư, Sài Gòn.
  27. Trần Tiến Đức, Nhà báo độc lập, Đạo diễn truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội.
  28.  
  29.  
LÝ DO ĐƠN GIẢN TẠI SAO VIỆT NAM LẠI KHÔNG CÓ KHOA HỌC
LÝ DO TẠI SAO VIỆT NAM LẠI KHÔNG CÓ KHOA HỌC
SỰ GIA TĂNG NGẬP ÚNG VÀ CÁC KÊNH, RẠCH PHƠI ĐÁY TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
SỰ GIA TĂNG NGẬP ÚNG VÀ CÁC KÊNH, RẠCH PHƠI ĐÁY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÀ DO BỘ XÂY DỰNG VÀ BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN GÂY RA
CHỦ TỊCH NGUYỄN ĐỨC CHUNG KHÔNG NÊN BIẾN SÔNG TÔ LỊCH THÀNH HỒ TÔ LỊCH
CHỦ TỊCH NGUYỄN ĐỨC CHUNG KHÔNG NÊN ĐI VÀO LỊCH SỬ LÀ NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH BIẾN SÔNG TÔ LỊCH THÀNH HỒ TÔ LỊCH